11:46 AM 18/02/2021  |   Lượt xem: 601  | 

Bài viết giới thiệu đến độc giả kết quả khảo sát từ các tổ chức, cá nhân (doanh nghiệp) trực tiếp tham gia thực hiện các hoạt động lưu trữ dưới hình thức xã hội hóa.

Như đã đề cập tại bài viết “xác định các hoạt động lưu trữ cần xã hội hóa - góc nhìn từ cơ quan nhà nước” đăng trên Trang thông tin điện tử của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước ngày  08/02/2021, xã hội hóa là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong những năm qua và đang tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực chịu sự quản lý của nhà nước, trong đó có lĩnh vực lưu trữ. Việc xác định các hoạt động lưu trữ nào cần và không cần thực hiện xã hội hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý ngành lưu trữ nhằm tạo sự thống nhất và hiệu quả triển khai các hoạt động lưu trữ trong các cơ quan, tổ chức.

Để có sự nhìn nhận khách quan về vấn đề này, trong bài viết nêu trên, nhóm tác giả đã giới thiệu đến độc giả vấn đề xác định những hoạt động nghiệp vụ lưu trữ cần thực hiện xã hội hóa thông qua một khảo sát được tiến hành đối với cơ quan nhà nước - đơn vị triển khai các hoạt động lưu trữ dưới hình thức xã hội hóa. Và trong bài viết này, cũng với cách đặt vấn đề như trên, tác giả giới thiệu đến độc giả kết quả khảo sát từ các tổ chức, cá nhân (doanh nghiệp) trực tiếp tham gia thực hiện các hoạt động lưu trữ dưới hình thức xã hội hóa. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra những so sánh, phân tích, đánh giá về sự giống và khác nhau giữa quan điểm của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp về vấn đề này.

1. Kết quả khảo sát từ doanh nghiệp

Với câu hỏi về sự “cần” hoặc “không cần” xã hội hóa đối với từng khâu nghiệp vụ và hoạt động lưu trữ, kết quả dữ liệu khảo sát thu được từ 100 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lưu trữ hoặc liên quan đến các hoạt động lưu trữ, sắp xếp theo tỷ lệ lựa chọn từ cao đến thấp, cụ thể như sau:

 

Bảng 1. Ý kiến của doanh nghiệp về hoạt động lưu trữ cần thực hiện xã hội hóa

TT

Hoạt động lưu trữ

Câu trả lời “cần”

  1.  

Khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ

94%

  1.  

Phổ biến chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ

92%

  1.  

Sưu tầm tài liệu quý hiếm vào lưu trữ

89%

  1.  

Bảo quản, bảo hiểm tài liệu lưu trữ

88%

  1.  

Nghiên cứu, tư vấn, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ trong hoạt động lưu trữ

88%

  1.  

Cung cấp Hệ thống quản lý tài liệu lưu trữ điện tử

87%

  1.  

Tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ

84%

  1.  

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lưu trữ

84%

  1.  

Số hóa tài liệu lưu trữ

83%

  1.  

Xác định giá trị tài liệu lưu trữ tại Lưu trữ cơ quan

82%

  1.  

Thực hiện báo cáo thống kê tài liệu lưu trữ

81%

  1.  

Thu thập tài liệu từ các nguồn nộp lưu vào lưu trữ

80%

  1.  

Tiêu hủy tài liệu hết giá trị

76%

 

Bảng tổng hợp dữ liệu khảo sát đã phản ánh thực tế các doanh nghiệp cho rằng mọi hoạt động lưu trữ trong các cơ quan nhà nước cần được xã hội hóa. Nói cách khác, doanh nghiệp mong muốn được tham gia vào tất cả hoạt động nghiệp vụ lưu trữ, hoạt động đào đạo, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực lưu trữ. Trong đó, doanh nghiệp cho rằng hoạt động “khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ” rất cần thiết được xã hội hóa với 94% câu trả lời của người tham gia khảo sát là “cần”, tiếp đó đến hoạt động “phổ biến chính sách và hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ” với 92% ý kiến đồng thuận. Ngoại trừ 76% ý kiến cho rằng cần xã hội hóa hoạt động “tiêu hủy tài liệu hết giá trị”, các hoạt động lưu trữ khác đều nhận được sự đồng thuận cho việc cần thực hiện xã hội hóa với từ 80 - 90% ý kiến của người tham gia khảo sát.

2. Phân tích so sánh

Để xác định sự giống nhau về quan điểm xác định các hoạt động lưu trữ cần xã hội hóa giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, nhóm tác giả kết hợp áp dụng hai phương pháp phân tích dữ liệu trong SPSS [2]. Phương pháp 1 là so sánh tỷ lệ phần trăm của câu trả lời (Frequences đối với từng câu trả lời của hai nhóm đối tượng khảo sát) và phương pháp 2 là so sánh giá trị trung bình của câu trả lời bằng Independent Samples T-Test. Áp dụng phương pháp 1, nhóm tác giả căn cứ vào tỷ lệ phần trăm của câu trả lời để nhận định sự giống và khác nhau đối với từng nghiệp vụ cụ thể. Sau đó, nhóm nghiên cứu áp dụng phương pháp 2 (chạy Independent Samples T-Test đối với dữ liệu) để kiểm chứng. Với cả hai phương pháp, kết quả phân tích dữ liệu hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan và nhận định của nhóm tác giả. Bên cạnh đó, nhóm tác giả thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên sâu để tìm hiểu nguyên nhân của những khác biệt trong quan điểm của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.

Cách xác định sự giống và khác nhau khi sử dụng Independent-samples T-test như sau:

- Chạy dữ liệu bằng phần mềm SPSS để tìm chỉ số chỉ sự khác biệt (viết tắt là Sig.).

- Nếu giá trị Sig. < 0.05 thì phương sai của 2 nhóm khác nhau.

- Nếu giá trị Sig. ≥ 0.05 thì phương sai của 2 nhóm không khác nhau.

Kết quả phân tích so sánh như sau:

 

Bảng 2: Dữ liệu so sánh hoạt động lưu trữ cần xã hội hóa

(Independent Samples T-Test)

TT

Hoạt động lưu trữ

Tỷ lệ câu trả lời “cần”

Sig.

N1

N2

1

Thu thập tài liệu từ các nguồn nộp lưu vào lưu trữ

68%

80%

.104

2

Sưu tầm tài liệu quý hiếm vào lưu trữ

88%

89%

.622

3

Bảo quản, bảo hiểm tài liệu lưu trữ

77%

88%

.002

4

Tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ

81%

84%

.633

5

Số hóa tài liệu lưu trữ

91%

83%

.380

6

Thực hiện báo cáo thống kê tài liệu lưu trữ

50%

81%

.000

7

Khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ

78%

94%

.001

8

Xác định giá trị tài liệu lưu trữ tại Lưu trữ cơ quan

49%

82%

.000

9

Tiêu hủy tài liệu hết giá trị

58%

76%

.008

10

Cung cấp Hệ thống quản lý tài liệu lưu trữ điện tử

83%

87%

.697

11

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lưu trữ

86%

84%

.509

12

Phổ biến chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ

71%

92%

.001

13

Nghiên cứu, tư vấn, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ trong hoạt động lưu trữ.

96%

88%

.092

 

Kết quả phân tích so sánh dữ liệu tại bảng trên đã chỉ ra nhóm hoạt động lưu trữ nhận được sự đồng nhất của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trong việc cần thiết phải thực hiện xã hội hóa gồm: (1) thu thập tài liệu từ các nguồn nộp lưu vào lưu trữ; (2) sưu tầm tài liệu quý hiếm vào lưu trữ; (4) tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ; (5) số hóa tài liệu lưu trữ; (10) cung cấp Hệ thống quản lý tài liệu lưu trữ điện tử; (11) tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lưu trữ; (13) nghiên cứu, tư vấn, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ trong hoạt động lưu trữ (Sig. ≥ 0.05). Trong đó, ngoại trừ hoạt động số (1) nhận được 68% câu trả lời “cần” từ cơ quan nhà nước, các hoạt động khác đều nhận được tỷ lệ câu trả lời “cần” rất cao từ cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp (từ 80% - 96%). Điều này phản ánh sự đồng thuận cao trong quan điểm của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trong việc cần thiết triển khai xã hội hóa nhóm nghiệp vụ này.

Mặc dù 80% người tham gia khảo sát từ các doanh nghiệp cho rằng cần xã hội hóa hoạt động “Thu thập tài liệu từ các nguồn nộp lưu vào lưu trữ”, chỉ 68% công chức, viên chức tại cơ quan nhà nước tham gia khảo sát đồng thuận với điều này. 32% công chức, viên chức tham gia khảo sát không đồng thuận với việc xã hội hóa nghiệp vụ này bởi lẽ họ cho rằng đây là trách nhiệm của các Lưu trữ lịch sử và Lưu trữ cơ quan, không nên để bên thứ ba tham gia vào nghiệp vụ này. Bên cạnh đó, họ cũng lập luận rằng, các quy định pháp lý và hướng dẫn nghiệp vụ cũng đã chỉ rõ thời hạn nộp lưu, quy trình và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử nên không nhất thiết phải xã hội hóa. Một vài người khác trong nhóm này cho rằng, nghiệp vụ thu thập tuy mất thời gian nhưng không tốn nhiều kinh phí, không quá phức tạp nên không nhất thiết phải xã hội hóa. Tuy nhiên, trên thực tế, phần mềm SPSS không chỉ thuần túy dựa vào tỷ lệ độ lệch của câu trả lời giữa các nhóm mà quan trọng nó còn dựa vào tính logic giữa các câu trả lời trong Phiếu khảo sát để xác định mức độ giống và khác nhau trong câu trả lời giữa các nhóm. Mặc dù lệch 12% giữa tỷ lệ câu trả lời của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, với Sig. ≥ 0.05, hoạt động số (1) vẫn được xếp vào nhóm các hoạt động đồng thuận.

Với giá trị Sig. < 0.05, kết quả phân tích dữ liệu đã chỉ ra nhóm các hoạt động lưu trữ nhận được sự khác biệt từ câu trả lời của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, gồm: (3) bảo quản, bảo hiểm tài liệu lưu trữ; (6) thực hiện báo cáo thống kê tài liệu lưu trữ; (7) khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ; (8) xác định giá trị tài liệu lưu trữ tại Lưu trữ cơ quan; (9) tiêu hủy tài liệu hết giá trị; (12) phổ biến chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ. Trong đó, mặc dù có sự khác biệt nhưng các hoạt động số (3), (7) và (12) vẫn nhận được trên 70% câu trả lời “cần” từ cơ quan nhà nước và trên dưới 90% sự đồng thuận từ doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là, cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp đều đồng thuận với việc cần thiết phải xã hội hóa các hoạt động này. Sự khác biệt là mong muốn của doanh nghiệp cao hơn nhiều so với mong muốn của cơ quan nhà nước. Chẳng hạn, 94% câu trả lời từ doanh nghiệp cho rằng cần xã hội hóa hoạt động số (7) khai thác, sử dụng tài liệu, chỉ 78% ý kiến của cơ quan nhà nước đồng thuận với vấn đề này. Tương tự 92% người tham gia khảo sát tại doanh nghiệp cho rằng cần xã hội hóa hoạt động số (12) phổ biến chính sách, hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ, chỉ 71% câu trả lời từ cơ quan nhà nước đồng thuận với vấn đề này.

Đáng chú ý là sự khác biệt về quan điểm xã hội hóa các hoạt động số (6) (6) thực hiện báo cáo thống kê tài liệu lưu trữ; (8) xác định giá trị tài liệu lưu trữ tại Lưu trữ cơ quan; (9) tiêu hủy tài liệu hết giá trị. Người tham gia khảo sát từ doanh nghiệp cho rằng cần thiết phải xã hội hóa hoạt động số (6) với 81% câu trả lời đồng thuận, số (8) với 82% câu trả lời đồng thuận và số (9) với 76% câu trả lời đồng thuận. Tuy nhiên, 50%, 49% và 58% là tỷ lệ câu trả lời lần lượt cho các hoạt động (6), (8), (9) từ phía cơ quan nhà nước. Điều này phản ánh các cơ quan nhà nước không đồng ý với việc xã hội hóa các hoạt động này hoặc chưa thực sự sẵn sàng với việc xã hội hóa các hoạt động nêu trên.

Tóm lại, xác định hoạt động lưu trữ nào cần và không cần thực hiện xã hội hóa là nhiệm vụ đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước ngành lưu trữ trong bối cảnh xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử và chủ động tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ việc xác định rõ các hoạt động lưu trữ cần thực hiện xã hội hóa, cơ quan quản lý nhà nước sẽ đưa ra những chính sách phù hợp và hướng dẫn cụ thể đối với việc các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước tham gia vào các hoạt động lưu trữ. Nghiên cứu khoa học nói chung, điều tra, khảo sát thăm dò ý kiến của các bên liên quan nói riêng là một trong những dữ liệu quan trọng giúp cơ quan quản lý nhà nước ra những quyết định đúng đắn, hợp lý. Trên cơ sở phân tích, so sánh dữ liệu điều tra khảo sát và phỏng vấn chuyên sâu tại các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, nhóm tác giả sẽ đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước những hoạt động lưu trữ cần và không cần thực hiện xã hội hóa theo cách tiếp cận riêng của nhóm trong bài viết tiếp theo.

----------------------

Chú thích:

[1] Trích kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Cơ sở khoa học xã hội hóa hoạt động lưu trữ”, Bộ Nội vụ, 2020.

[2] SPSS là viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences là một chương trình máy tính phục vụ công tác thống kê, hỗ trợ xử lý và phân tích dữ liệu cho các ngàng khoa học xã hội.

Hà Chi