10:32 AM 29/01/2021  |   Lượt xem: 473  | 

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Cơ sở khoa học xã hội hóa hoạt động lưu trữ” do TS. Nguyễn Thị Chinh làm chủ nhiệm đăng ký năm 2019, nghiệm thu năm 2020 và được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.

 

Xã hội hóa là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên thế giới khi Chính phủ thực hiện chính sách đổi mới với chủ trương huy động sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tổ chức cá nhân vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tại Việt Nam, xã hội hóa đã được thực hiện trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, y tế và gần đây là lĩnh vực tư pháp, dịch vụ hành chính công. Theo xu hướng xây dựng và thực hiện Chính phủ điện tử, hành lang pháp lý về xã hội hóa đang dần được hoàn thiện để tạo điều kiện và thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động quản lý nhà nước. Trong bối cảnh đó, việc triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu “Cơ sở khoa học xã hội hóa hoạt động lưu trữ” là cần thiết và cấp bách nhằm làm  rõ những vấn đề cơ bản về xã hội hóa hoạt động lưu trữ, tạo cơ sở để đề xuất các hoạt động lưu trữ cần hoặc không cần thực hiện xã hội hóa, đồng thời chỉ rõ trách nhiệm của Nhà nước trong xã hội hóa hoạt động lưu trữ và huy động các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước tham gia vào hoạt động lưu trữ, thúc đẩy sự phát triển ngành Lưu trữ.

Để triển khai thực hiện mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình và phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp nghiên cứu định tính và sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu khảo sát. Trong đó, nghiên cứu định lượng được sử dụng để khám phá quan điểm về xã hội hóa, xã hội hóa hoạt động lưu trữ và đánh giá thực tiễn xã hội hóa hoạt động lưu trữ tại Việt Nam. Sử dụng phiếu khảo sát và tiến hành thu thập dữ liệu từ các cơ quan, tổ chức nhà nước và các doanh nghiệp đã, đang và sẽ tham gia thực hiện hoạt động lưu trữ. Nghiên cứu định tính được sử dụng để kiểm định lại quan điểm về xã hội hóa và xã hội hóa hoạt động lưu trữ, tìm hiểu lý do cụ thể của người tham gia khảo sát khi đưa ra những đáp án không đồng nhất trong một vấn đề cụ thể tại phiếu khảo sát nhằm có những lý giải cụ thể đối với các đề xuất, kiến nghị của nhóm nghiên cứu. Sử dụng cách thức phỏng vấn chuyên sâu thông qua điện thoại hoặc trực tiếp. Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phân tích tổng hợp, so sánh, lấy ý kiến chuyên gia cũng được áp dụng để nâng cao chất lượng của kết quả nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 03 chương

- Chương 1: Cơ sở lý luận về xã hội hóa và xã hội hóa hoạt động lưu trữ;

- Chương 2: Cơ sở pháp lý và thực tiễn xã hội hóa hoạt động lưu trữ tại Việt Nam;

- Chương 3: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị.

 

Báo cáo tổng hợp kết quả ngiên cứu đề tài khoa học cấp bộ: Cơ sở khoa học xã hội hóa hoạt động lưu trữ.

 

Về cơ bản, đề tài đã giải quyết được những vấn đề sau:

- Bước đầu đã làm rõ cơ sở lý luận xã hội hóa hoạt động lưu trữ như: khái niệm, mục đích, nguyên tắc, yêu cầu và sự cần thiết của xã hội hóa hoạt động lưu trữ (Chương 1, Mục 1.1, 1.2, 1.3). Đáng chú ý là thống nhất quan điểm xã hội hóa hoạt động lưu trữ là huy động nguồn lực của nhà nước và xã hội nhằm phát triển ngành lưu trữ trong bối cảnh thực tế vẫn có quan điểm cho rằng, xã hội hóa là huy động nguồn lực của xã hội và giảm nguồn lực của nhà nước. Bên cạnh đó, việc làm sáng tỏ sự khác nhau giữa xã hội hóa hoạt động lưu trữ, xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công lĩnh vực lưu trữ và xã hội hóa đơn vị sự nghiệp lưu trữ và xây dựng mô hình xã hội hóa hoạt động lưu trữ cũng góp phần làm rõ vấn đề lý luận xã hội hóa hoạt động lưu trữ (Chương 1, Mục 1.3 và 1.4).

- Làm rõ cơ sở pháp lý hiện hành của xã hội hóa hoạt động lưu trữ gồm ba nội dung: quan điểm và nội dung của xã hội hóa hoạt động lưu trữ, đối tượng tham gia xã hội hóa hoạt động lưu trữ, thủ tục và định mức kinh tế kỹ thuật cho từng hoạt động nghiệp vụ lưu trữ (Chương 2, Mục 2.1).

- Đánh giá thực tiễn thực hiện xã hội hóa hoạt động lưu trữ tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích kết quả dữ liệu khảo sát, đề tài đã chỉ ra quan điểm, nhu cầu, mục đích, nội dung, mong muốn của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện xã hội hóa hoạt động lưu trữ. Kết quả phân tích so sánh sự giống và khác nhau trong hai nhóm quan điểm (cơ quan nhà nước và doanh nghiệp) đã cung cấp một cách nhìn khách quan cho các nhà khoa học, nhà quản lý trong việc xây dựng chủ trương, chính sách xã hội hóa hoạt động lưu trữ trong thời gian tới (Chương 2, Mục 2.2).

 - Trên cơ sở đối chiếu giữa lý luận, pháp lý và thực tiễn xã hội hóa hoạt động lưu trữ tại Việt Nam, Đề tài đã đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế, phân tích những vướng mắc, khó khăn của xã hội hóa hoạt động lưu trữ (Chương 2, Mục 2.3) và đề xuất các giải pháp như: mô hình xã hội hóa hoạt động lưu trữ; xây dựng quy định pháp lý về xã hội hóa hoạt động lưu trữ; xây dựng mục đích, chiến lược; tăng cường kiểm tra, giám sát; tăng cường nguồn lực; đẩy mạnh tuyên truyền... nhằm thúc đẩy quá trình xã hội hóa hoạt động lưu trữ (Chương 3, Mục 3.1). Từ đó, Đề tài đưa ra những kiến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực lưu trữ; cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện xã hội hóa hoạt động lưu trữ; tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện xã hội hóa hoạt động lưu trữ, các cơ sở đào tạo chuyên ngành lưu trữ, Hội Văn thư và Lưu trữ Việt Nam (Chương 3, Mục 3.2).

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, có thể là cơ sở để Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ xây dựng chiến lược xã hội hóa của ngành lưu trữ và đề xuất các quy định pháp lý về xã hội hóa hoạt động lưu trữ trong thời gian tới.

Báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu đã được nộp lưu vào Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Thư viện Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ. Hồ sơ triển khai thực hiện đề tài được lưu tại Trung tâm Khoa học kỹ thuật Văn thư - Lưu trữ, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ./.

Huyền Chi