03:19 PM 07/04/2020  |   Lượt xem: 582  | 

Sự ủng hộ, quyên góp nhiệt tình, tự nguyện của các tầng lớp nhân dân đã có tác dụng, ý nghĩa quan trọng, góp phần cần kíp, khẩn trương giải quyết khó khăn bước đầu về tài chính của đất nước, góp phần từng bước củng cố chính quyền nhà nước.

       Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đất nước được độc lập, nhân dân có quyền tự do, nhưng Việt Nam phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách. Bên cạnh những khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế là những khó khăn về tài chính.

      Sau ngày Độc lập, tình hình tài chính đất nước hết sức eo hẹp, ngân sách của Chính phủ gần như trống rỗng, “tiền mặt ở Ngân khố Trung ương lúc bấy giờ chỉ có một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng (1.250.000 đồng), trong đó có năm trăm tám mươi ngàn đồng (580.000 đồng) bằng hào nát…”(1). Yêu cầu cấp bách đặt ra là ra sức củng cố chính quyền về mọi mặt, cần đề ra các biện pháp để giải quyết những khó khăn về đối nội, đối ngoại, về tài chính của đất nước.

      Để cấp bách giải quyết vấn đề tài chính, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp, chính sách khác nhau, cả những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài như: Đấu tranh tiền tệ với các loại tiền quan kim, quốc tệ; thực hiện chính sách bãi bỏ thuế thân; ban hành tín phiếu… Trước mắt, Chính phủ chủ trương dựa vào sức dân, động viên tinh thần yêu nước của nhân dân, vận động nhân dân ủng hộ Chính phủ. Chỉ 2 ngày sau khi ra mắt, Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 04 ngày 04/9/1945 thành lập tại Hà Nội và các tỉnh một quỹ gọi là “Quỹ Độc lập”. Sắc lệnh nêu rõ: “Lập tại Hà Nội và các tỉnh trong cả nước một quỹ thu nhận các món tiền và đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia”(2). Đồng thời, Sắc lệnh cũng chỉ định người đứng đầu chịu trách nhiệm và cách thức triển khai tổ chức quyên góp, quản lý Quỹ. Ở Hà Nội, ông Đỗ Đình Thiện là Phụ trách Quỹ Trung ương ở Hà Nội và “mọi việc quyên tiền và đồ vật và việc tổ chức sẽ đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Tài chính”(3).

Sắc lệnh số 04 ngày 04/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời về việc lập ở Hà Nội và các tỉnh một quỹ gọi là “Quỹ Độc lập”. Sắc lệnh được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2016.

Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 01, tờ 04, 05.

      Ngay sau khi ban hành Sắc lệnh lập Quỹ Độc lập, để nhanh chóng động viên nguồn lực từ nhân dân, Chính phủ đã tổ chức phát động phong trào “Tuần lễ Vàng”, được tiến hành trong cả nước từ ngày 17/9 đến ngày 24/9/1945, nhằm động viên nhân dân quyên góp tiền bạc, của cải ủng hộ Chính quyền cách mạng.

      Trong buổi Lễ phát động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đến dự được, Người đã viết thư gửi đồng bào cả nước, nêu rõ ý nghĩa to lớn của việc tổ chức Tuần lễ Vàng và kêu gọi nhân dân tích cực tham gia:“Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có…Tuần lễ Vàng sẽ thu góp số Vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để cúng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng. Tuần lễ Vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho toàn thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút Vàng để phụng sự Tổ quốc. (4)

      Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và với tinh thần “Vàng tuy là quý. Độc lập và tự do lại còn quý hơn. Đồng bào hãy đem vàng bảo vệ đất nước và kiến thiết quốc gia”, với lòng nồng nàn yêu nước, nhân dân ta ở khắp nơi, tiểu thương, phú hào, tư sản… đã tích cực quyên góp tiền, vàng, bạc, nhà, thóc, gạo… ủng hộ Chính quyền cách mạng.

      Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kilôgam vàng.(5)

      Sự ủng hộ, quyên góp nhiệt tình, tự nguyện của các tầng lớp nhân dân đặc biệt là những người giàu có đã có tác dụng, ý nghĩa quan trọng, góp phần cần kíp, khẩn trương giải quyết khó khăn bước đầu về tài chính của đất nước, góp phần từng bước củng cố chính quyền nhà nước về mọi mặt, nhất là để tăng cường tiềm lực quốc phòng. Hơn nữa, sự đồng lòng của nhân dân, thể hiện mối liên hệ giữa nhân dân và Chính phủ, khẳng định hơn nữa niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đáng trân quý, không chỉ có tầng lớp lao động là công nhân, nông dân… sát cánh cùng Chính phủ, mà các tầng lớp, giai cấp khác là tiểu tư sản, tư sản giàu có, tiểu thương, giới nam nữ, học sinh, phụ nữ, thiếu niên…cũng đồng lòng, ra sức ủng hộ Chính phủ. Điều này cũng tỏ rõ ưu việt của chế độ xã hội mới là đề cao sức dân, vai trò của nhân dân.

      Trong hoàn cảnh đất nước năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, việc phát huy sức mạnh của dân, dựa vào dân, khơi dậy tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc từ nhân dân chính là chủ trương, là sách lược đúng đắn của Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy luôn xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hiện nay, trước những khó khăn do tình hình dịch bệnh, Chính phủ và các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, nhân dân đang căng mình nỗ lực chống lại dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe, đời sống của nhân dân. Tiếp tục tinh thần "Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức" cách đây 75 năm trước, thực hiện đạo lý “lá lành đùm lá rách”, mỗi người dân không chỉ thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ đối với bản thân, trước cộng đồng, không chỉ thực hiện tuân thủ những chỉ dẫn của các cấp chính quyền và cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo sửa khỏe, chung tay đẩy lùi dịch bệnh mà còn tiếp tục phát huy tinh thần tự nguyện quyên góp, ủng hộ Chính phủ, nhân dân, để vượt qua đại dịch… Đó chỉ có thể là lòng yêu nước, đã in sâu đậm và trở thành truyền thống dân tộc của Việt Nam.

Chú thích:

1. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III,  Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 1961.

2. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 01, tờ 03.

3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 01, tờ 04.

4. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXBCTQG, 2011, trang 16.

5. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXBCTQG, 2011, trang 600.

Thiên Lý (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)