11:46 AM 01/07/2021  |   Lượt xem: 257  | 

Ở Đà Nẵng, tất cả sắc phong hiện còn đều thuộc triều Nguyễn (1802 - 1945). Đạo sắc có niên đại sớm nhất là năm Gia Long thứ 2 (1803), hiện lưu ở nhà thờ họ Huỳnh làng Quan Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang. Đạo sắc có niên đại muộn nhất là thời vua Bảo Đại. Ở đình Đà Sơn (Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu) hiện còn giữ 4 đạo sắc phong thần đề năm Bảo Đại thứ 14, tức năm 1938.

     Sắc phong là một loại văn bản do vua ban tặng. Ở Đà Nẵng, tuyệt đại đa số là sắc phong thần, đó là cơ sở để dân làng sở tại thờ cúng các vị thần thánh. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ đến khi có sắc phong thì việc thờ cúng thần thánh mới xuất hiện. Ban sắc phong chỉ là một cách để nhà nước phong kiến chứng tỏ uy quyền, uy lực của mình (thần, thánh dù cao siêu đến mấy vẫn đứng sau vua, chịu đặc ân vua ban tặng); đồng thời, đây cũng là biện pháp để kiểm soát đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của người dân.

     Vài nét về sắc phong dưới triều Nguyễn

     Đối với triều Nguyễn (1802 - 1945), ngay từ đầu đời Gia Long, nhà vua đã ban chiếu về việc phong tặng sắc cho các thần kỳ. Sử chép: “Gia Long năm thứ 2, chiếu cho Bắc Thành và các trấn Thanh, Nghệ, những đền thờ thần ở các huyện xã, trừ bỏ ra các dâm từ và không có công đức sự tích, còn thì hiện có công đức sự tích là bao nhiêu vị, đều cho làm sổ đệ tâu chờ phong.

     Năm thứ 3, chuẩn lời nghị: Về Bắc Thành, những bản danh sách các xã dân trong hạt khai thần hiệu trước đây phàm thân thần1 hiện có họ tên công trạng, thiên thần có sự tích rõ rệt và danh thần ở các núi sông, cùng hiện có sắc phong, thì liệt làm hạng trên; thứ đến nhân thần có họ tên mà công trạng chưa được rõ rệt, sắc phong có quan tước mà họ tên thất truyền, hoặc hiện có ghi quan tước họ tên mà sắc phong thời loạn lạc thì liệt ở hạng giữa; lại thứ nữa như sắc phong tuy còn mà sự tích mai một, nhưng xét các mĩ tự là chính thần, thì liệt ở hàng dưới. Đến như lúc còn sống làm sự nhơ nhuốc và tà dâm, những tinh khí ma quỷ gỗ đá, những loài côn trùng quái vật phàm thuộc vào sự bất chính, đều nên tước bỏ”2.

     Tuy nhiên, việc phong sắc có phần lộn xộn, chưa có quy củ, thật giả lẫn lộn. Vì vậy, năm Gia Long thứ 10 (1811), vua chuẩn lời nghị: “Lần này cấp tặng sắc cho thần kỳ ở Bắc Thành, xét ra lẫn lộn và sai lầm có đến hơn 560 đạo, và các tỉnh lệ làm ra sắc như giả. Vậy thì các đạo tặng sắc khâm ban năm trước, do thành trấn ấy thông sức cho các xã dân phải thu nộp tất cả, để chờ chỉ cho đốt đi”3. Đây cũng chính là lý do các đạo sắc niên hiệu Gia Long hiện còn rất hiếm. Ngay trung tâm kinh kỳ là Thừa Thiên Huế vẫn chưa tìm thấy sắc phong nào có niên đại thời Gia Long.

     Rút kinh nghiệm từ triều trước, ngay năm đầu lên ngôi, vua Minh Mạng đã lệnh cho Bộ Lễ tra xét rõ ràng thần kỳ trong cả nước, xin xuống chỉ phong tặng có khác nhau. Đồng thời để tránh cho việc ghi mỹ tự của thần trở nên dài dòng, Minh Mạng năm thứ 2, vua chuẩn lời tâu: “Các thần hiệu mới được ban tặng, mà những mỹ tự ở trong sắc cũ có ba, bốn mươi chữ, hoặc đến một, hai trăm chữ, phần nhiều là trùng lắp chắp vá thì chiếu các sắc cũ, chỉ trích lấy những chữ nguyên tên hiệu cũ của vị thần ấy, viết rõ vài câu mới”4. Chính bởi quy định này nên tất cả các sắc thời Minh Mạng, mỹ tự của thần rất ngắn.

     Đến đầu đời Tự Đức, việc phong tặng sắc cho các thần kỳ đã trở thành quy củ, thống nhất điển lệ, cả phẩm trật, mỹ tự, thể văn. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho chúng ta biết: vào năm Tự Đức thứ 3 (1850) vua chuẩn lời nghị gia tặng mỹ tự cho các thần như sau: “Vị nào liệt ở thượng đẳng, thì thiên thần gia tặng chức Túy mục, thổ thần gia tặng chữ Hàm quang, sơn thần gia tặng chữ Tuấn tĩnh, thủy thần gia tặng chữ Hoành hợp, dương thần gia tặng chữ Trác vĩ, âm thần gia tặng chữ Trang huy; vị nào liệt ở trung đẳng, thì thiên thần gia tặng chữ Linh thủy, thổ thần gia tặng chữ Tĩnh hậu, sơn thần gia tặng chữ Củng bạt, thủy thần gia tặng chữ Nông nhuận, dương thần gia tặng chữ Quang ý, âm thần gia tặng chữ Trai thục; vị nào liệt ở hạ đẳng, thì thiên thần gia tặng chữ Thuần chính, thổ thần gia tặng chữ Đôn ngưng, sơn thần gia tặng chữ Tứ ngực5, thủy thần gia tặng chữ Trừng trạm, dương thần gia tặng chữ Đoan túc, âm thần gia tặng chữ Nhan uyển, mỗi thần hiệu đều gia tặng hai chữ, các thần hiệu dự ở phong tặng đều xét từng hạng viết điền vào nhưng trong khi viết sắc, đem cả những chữ tích phong trước kia và mỹ tự gia tặng lần này, viết liền đi, để cho hợp với việc làm trước”6.

     Sắc phong triều Nguyễn ở Đà Nẵng và vấn đề bảo tồn giữa dân gian

     Ở Đà Nẵng, tất cả sắc phong hiện còn đều thuộc triều Nguyễn (1802 - 1945). Đạo sắc có niên đại sớm nhất là năm Gia Long thứ 2 (1803), hiện lưu ở nhà thờ họ Huỳnh làng Quan Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang. Đạo sắc có niên đại muộn nhất là thời vua Bảo Đại. Ở đình Đà Sơn (Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu) hiện còn giữ 4 đạo sắc phong thần đề năm Bảo Đại thứ 14, tức năm 1938.

     Về số lượng, sắc phong còn lại không nhiều, với 294 bản, được lưu giữ giữa dân gian, chủ yếu là tại các đình làng. Số làng có sắc phong cũng chỉ khoảng hơn 25 làng, trong đó, huyện Hòa Vang chiếm phần nhiều; còn lại rải rác ở các quận Cẩm Lệ, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà và Thanh Khê.

Đạo sắc có niên đại sớm nhất ở Đà Nẵng

 

     Tuy nhiên, qua điền dã được biết rất nhiều làng trong quá khứ có sắc phong, nhưng do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do chiến tranh loạn lạc và thiên tai, nên sắc phong đã bị mất mát. Ví dụ như các làng Bồ Bản, Dương Lâm (Hòa Phong, Hòa Vang), Hưởng Phước (Hòa Liên, Hòa Vang), Yến Nê (Hòa Tiến, Hòa Vang), Xuân Dương (Hòa Hiệp Nam, Liên Chiểu)… trước đây có sắc phong vua ban được cất giữ ở đình, nhưng do đình bị cháy, bị lụt lội nên không chỉ có sắc phong mà toàn bộ những tài liệu liên quan đến đình đều bị hủy hoại.

      Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy nơi có được nhiều sắc phong nhất hiện nay là làng Nam An (sau đổi tên thành Nam Thọ), phườngThọ Quang, quận Sơn Trà. Trong số 34 sắc hiện còn, thì sắc sớm nhất có niên đại năm Minh Mạng thứ 7 (1826), muộn nhất là sắc năm Bảo Đại thứ 9 (1933), bao gồm: 3 sắc năm Minh Mạng thứ 7 (1826), 6 sắc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), 3 sắc năm Tự Đức thứ 3 (1850), 2 sắc năm Tự Đức thứ 5 (1852), 2 sắc năm Tự Đức thứ 33 (1880), 2 sắc năm Đồng Khánh thứ 2 (1886), 2 sắc năm Duy Tân thứ 3 (1909), 4 sắc năm Duy Tân thứ 5 (1911), 8 sắc năm Khải Định thứ 2 (1917), 2 sắc năm Khải Định thứ 9 (1924) và 1 sắc năm Bảo Đại thứ 9 (1933). Số lượng các vị thần được phong là 17 vị. Trong đó, Thiên Y A Na là vị thần được phong tặng nhiều nhất (9 lần), kế đến là bốn vị Thánh Nương Đại Càn Quốc Gia Nam Hải (8 lần).

      Ngoài làng Nam Thọ, một số làng khác cũng có số lượng sắc phong tương đối nhiều, như: Thúy Loan (nay là Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) 25 sắc, Xuân Lộc (Hòa Sơn, Hòa Vang) 20 sắc, Hóa Khuê Đông (Hòa Quý, Ngũ Hành Sơn) 19 sắc, Thạc Giản (nay là Thạc Gián, phường Chính Gián, quận Thanh Khê) 18 sắc, Lỗ Giản (nay là Lỗ Giáng, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ), Phước Khương (nay là Hòa Khương, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang) 16 sắc, Mỹ Khê (Phước Mỹ, Sơn Trà) 16 sắc, Trung Nghĩa (Hòa Minh, Liên Chiểu) 16 sắc, Đại La (Hòa Sơn, Hòa Vang) 15 sắc.

     Sắc phong có niên đại thời Tự Đức (1848 - 1883) chiếm số lượng lớn với các năm Tự Đức thứ 3, Tự Đức thứ 5 và Tự Đức thứ 33, kế đến là sắc có niên đại thời Thiệu Trị (1841 - 1847), trong khi các vị vua khác chỉ ban cấp một hoặc hai lần trong thời gian tại vị. Tuy nhiên, trong những năm này (niên hiệu Thiệu Trị, Tự Đức), số lượng các vị thần được ban tặng sắc không thay đổi.

      Trong số rất nhiều đạo sắc tìm thấy có niên đại thời Bảo Đại ở các làng như Thạc Gián, Đà Sơn, Hòa Mỹ, Nam Thọ, thì thấy rằng đa số là sắc phong nhân thần; có một sắc phong cho Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi tôn thần đề ngày mồng 8 tháng 3 năm Bảo Đại thứ 9. Điều này, khác với sắc phong ở Thừa Thiên Huế, theo khảo sát của Bảo tàng Văn hóa dân gian Huế, những sắc phong cho thần linh kết thúc ở thời Khải Định (1916-1925).

     Điều đáng chú ý là trong số các đối tượng được phong tặng sắc, có những vị tiền hiền, hậu hiền các làng xã. Ví dụ như các vị tiền hiền Nguyễn Huyền, hậu hiền Phạm Xung của thôn Hòa Mỹ; tiền hiền Phan Công Thiên, tiền hiền Kiều Lịnh, tiền hiền Nguyễn Đăng, tiền hiền Đỗ Tuyết của làng Đà Sơn; tiền hiền Trương “đại lang”, tiền hiền Nguyễn “đại lang” làng Nam An (Nam Thọ); các vị khai canh làng Thúy Loan (Túy Loan) gồm: Nguyễn “đại lang”, Đặng Công Mẫn, Trần “đại lang”, Lâm “đại lang”, Lê “đại lang”. Tất cả họ đều được phong là Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò chi/tôn thần. Cá biệt có hai vị hậu hiền làng Thạc Gián được phong thần là hai người cùng dòng họ Nguyễn và một trong hai người là quan viên Thái Y Viện thời chúa Nguyễn. Đó là hậu hiền Nguyễn Kim Bảng và hậu hiền Nguyễn Kim Châu. Sắc phong năm Bảo Đại thứ 10 phong thần cho Nguyễn Kim Châu có ghi rõ 後 賢 第 二 郎 前 朝 太 醫 阮 正 御 醫 兼 廣 南 營 知 簿 盛 德 候 阮 金 珠 尊 神 “Hậu hiền đệ nhị lang tiền triều Thái Y Viện Chánh Ngự Y kiêm Quảng Nam doanh Tri Bộ Thịnh Đức Hầu Nguyễn Kim Châu tôn thần”. Việc phong thần cho những vị tiền – hậu hiền như trên là chuẩn theo tờ tâu xin của dân làng (qua sự xét duyệt của các cấp huyện, phủ), điều đó cho thấy những vị này là những người có nhiều công lao đối với việc khai canh lập ấp, góp phần quan trọng vào sự phát triển của làng xã, giúp nhân dân tạo lập cuộc sống nên được phong tặng.

     Ngoài các sắc phong thần kể trên, hiện trong các từ đường, tư gia còn bảo lưu nhiều sắc phong nhân vật. Đây là những sắc ban phong cho giữ chức hoặc tấn phong tước vị. Như tộc Lê ở làng Mân Thái, nay thuộc phường Mân Thái, quận Sơn Trà hiện còn lưu sáu đạo sắc phong ban cho ông Lê Cúc, một viên thủy quân trong biên chế Thủy vệ tỉnh Quảng Nam kinh qua chức vụ Ngoại ủy đội trưởng đội 8 Hữu thủy vệ Quảng Nam (Năm Thiệu Trị thứ 4) đến Thự Quản cơ sung Hiệp quản Thủy vệ Hà Nội (Năm Tự Đức thứ 16), sau khi mất được ban phong cho nhận Thực thụ Quản cơ. Số lượng các sắc phong nhân vật đoán định còn khá nhiều giữa dân gian, và chưa từng có các đợt tổng điều tra cụ thể.

     Sắc phong là văn bản vua ban, lại được linh thiêng hóa qua lăng kính tâm thức của người dân, do đó trong quá khứ, loại tư liệu này được cất giữ rất cẩn trọng. Trải qua các đời, làng đều cắt cử người trông coi. Người này được gọi là thủ sắc. Hết nhiệm kỳ, làng phải bầu người khác kế nhiệm. Lúc đó, cựu thủ sắc và tân thủ sắc phải lập giấy giao nhận, có sự chứng kiến của đại diện làng xã. Hai bên cùng kiểm tra lại toàn bộ sắc phong, ghi chép rõ số lượng sắc bàn giao và hiện trạng mỗi đạo sắc, ví dụ bị rách bao nhiêu chữ, ở vị trí nào, bao nhiêu lỗ hổng, lỗ lớn hay nhỏ, bao nhiêu sắc bị tỳ dạng.v.v. Xong, mọi người (hai bên giao nhận và các vị đại diện chứng kiến) cùng điểm chỉ.

     Thường các đạo sắc được cất giữ trong hộp gỗ (hoặc kim loại), có làng cất giữ trong hộp tre, và đặt trong bàn án treo cao giữa chánh điện đình hoặc tại các miếu thờ thần. Một số làng giao cho tộc họ hoặc người tin cậy cất giữ để tránh bị trộm cắp. Lệ xưa, mỗi lần có lễ hội đình làng thì mới tổ chức rước sắc cúng. Lễ rước sắc được chuẩn bị kỹ càng, chọn ngày xem giờ, được tổ chức nghiêm trang và long trọng. Những người tham dự vào quá trình lễ phải mang áo dài tay thụng, lưng thắt dây, đầu đội mũ. Sau đó mới được mở sắc xem. Lệ này nay đã giản ước khá nhiều, nhưng vẫn tuân thủ theo một quy trình nhất định. Việc xem sắc cũng đơn giản hơn nhưng nhất thiết cũng phải có vị chủ bái, hoặc bồi bái, hay người cao tuổi hiểu biết nghi lễ, thắp hương cầu khấn, rồi mới được hạ sắc. Tuy nhiên, cũng có một vài trường hợp giao hẳn cho một cá nhân nào đó quản lí, đã tạo nên sự tùy tiện, hoặc đã xảy ra tình trạng khi người này di chuyển chỗ ở nhưng ít hoặc không liên lạc với làng (cũ), gây nên lắm chuyện phiền phức.

     Cho dù được đối xử với một thái độ trân trọng, một tâm lí kính ngưỡng, nhưng theo thời gian, sắc phong không tránh khỏi hư hại. Hiện nay, có đến hơn 50% sắc phong đã không còn nguyên dạng, với những biểu hiện cụ thể như: mờ chữ, rách, thủng cục bộ; thậm chí nhiều sắc đã bị giòn vỡ thành những mảnh giấy nhỏ, phải sắp đặt, lắp ghép lại mới tiếp cận được. Trường hợp ở đình làng Phú Hạ (xã Xuân Lộc, huyện Hòa Vang), toàn bộ sắc phong đều mủn nát, ngoài sức tưởng tượng của chính người lưu giữ. Thậm chí nhiều nơi khi chúng tôi tiếp cận, có cả chuột sống trong hòm đựng. Ngoài nguyên nhân chính là do giới hạn về “độ tuổi” của chất liệu (giấy) làm sắc, còn có những nguyên nhân khác liên quan đến khâu kỹ thuật bảo quản như để cho sắc bị ẩm mốc, mối mọt, hoặc bị thấm ướt do tình trạng dột nát của các công trình nơi cất giữ sắc. Nhiều làng xã, tộc họ còn dùng ni lông cán ép toàn bộ sắc phong để bảo quản dài lâu. Tuy nhiên, hệ lụy mang lại trong lần thực địa mới nhất chúng tôi thấy được là mực in và chữ viết tách rời dần khỏi giấy sắc. Nhiều chỗ có bóng khí tạo thành lỗ chỗ trên bề mặt giấy. Mặt khác, tục lệ thỉnh và mở sắc nghiêm ngặt của dân gian cũng đã hạn chế tính kịp thời của việc nắm bắt tình trạng sắc phong. Một số làng khi rước sắc thì mới phát hiện sắc đã bị hư hại.

     Tình trạng trên mặc dù diễn ra trong thời gian lâu, được sự tư vấn của những người làm công tác bảo tồn di sản văn hóa, nhưng xem ra kết quả không mấy khả quan. Cũng cần nhận thấy rằng, trong xã hội hiện đại, số người biết và hiểu chữ Hán không nhiều cũng là nguyên nhân quan trọng khiến hàng trăm đạo sắc phong ít được phổ biến, giới thiệu, gây khó khăn không nhỏ trong việc bảo tồn di sản văn hóa.

     Công bằng mà nói, thời gian qua ngành văn hóa, chính quyền các cấp đã có những động tác thể hiện trách nhiệm của mình trong việc quản lý, giữ gìn và phát huy các hiện vật còn lại trong di tích, trong đó có sắc phong, nhưng hầu như chưa có được động thái tích cực nhất để bảo tồn và phát huy giá trị sắc phong. Gần đây nhất, tháng 6 năm 2020, Bảo tàng Đà Nẵng phối hợp với Thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học Tổng hợp Đà Nẵng tiến hành thực địa, số hóa các sắc phong hiện còn. Thiết nghĩ, việc giữ gìn những đạo sắc phong qua thời gian chiến tranh và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã là một việc khó khăn, không lý gì trong thời đại hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, đặc biệt, văn hóa được coi vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, chúng ta lại để những tư liệu quý này lùi về dĩ vãng. Đã đến lúc cần có một dự án bảo tồn, tôn vinh và quảng bá giá trị sắc phong để nó thực sự là những di sản quý báu góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

-----------------

Chú thích:

1. Tức là phúc thần.

2. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 8, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.173-174.

3. Nội các triều Nguyễn, Sđd, tr.174.

4. Nội các triều Nguyễn, Sđd, tr.175.

5. Chữ Hán không có chữ này; có lẽ do lỗi của nhà in.

6. Nội các triều Nguyễn, Sđd, tr.187.

Tài liệu tham khảo:

1. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 8, Nxb Thuận Hóa, Huế.

2. Bảo tàng văn hóa dân gian Huế (2008), Văn bản Hán Nôm làng xã vùng Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế.

3. Nhiều tác giả (2014), Đình làng Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng.

 

TS. Lê Xuân Thông (Viện Khoa học xã hội vùng Trung bộ) - ThS. Đinh Thị Toan (Nhà Trưng bày Hoàng Sa)