11:00 AM 26/07/2013  |   Lượt xem: 856  | 

Tài liệu gốc hiện đang được lưu trữ và bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” quân dân ta đã anh dũng kiên cường chiến đấu. Trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến kiến quốc, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống hoặc đổ máu trên các chiến trường. Đời sống binh lính lúc đó, nhất là những binh sĩ bị thương gặp nhiều khó khăn. Trước yêu cầu đó, cùng với việc kêu gọi giúp đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 29/5/1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 84-Bis tuyên dương công trạng cho các chiến sĩ bị tử trận trong khi chiến đấu giành nền độc lập cho tổ quốc. Sắc lệnh ghi rõ “Các chiến sĩ trong khi chiến đấu giành nền độc lập cho nước Việt Nam mà bị tử trận, bị thương hoặc có chiến công anh dũng, đều được tuyên dương công trạng trong quân đội”. Đồng thời, “những chiến sĩ bị tàn tật và cha mẹ vợ con của những chiến sĩ tử trận phải được biệt đãi ở các địa phương”. Tiếp đến vào ngày 16/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ “hưu bổng thương tật” và “tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với cuộc chiến tranh của Việt Nam.

 Đúng như mục tiêu đề ra ban đầu, trên đất nước ta đâu đâu cũng dấy lên nhiều việc làm thiết thực đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng. Thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái” lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã vì độc lập, thống nhất tổ quốc, vì tự do và cuộc sống yên bình của nhân dân mà hy sinh cống hiến.

Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2013) xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc toàn văn Sắc lệnh số 20-SL ngày 16/02/1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định chế độ “hưu bổng thương tật” và “tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”. Tài liệu gốc hiện đang được lưu trữ và bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ số 05, Sắc lệnh này được đánh máy trên nền giấy màu nâu, cuối Sắc lệnh có bút tích chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là tài liệu quý, thể hiện tình thương yêu, sự quan tâm hết lòng của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với anh em thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Chúng tôi mong rằng với tài liệu này sẽ góp phần thiết thực vào việc tuyên truyền thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Bác Hồ và của Nhà nước đối với thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công đối với đất nước, phát huy truyền thống yêu nước trong các thế hệ người Việt Nam.

Sau đây là toàn văn các Sắc lệnh:

 

Sắc lệnh số 20-SL ngày 16/02/1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Sắc lệnh số 20-SL ngày 16/02hòa đặt ra “hưu bổng thương tật” và “tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”.

  

BỘ QUỐC PHÒNG

Số: 20/SL

  

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ DÂN CHỦ CỘNG HÒA VIỆT NAM  

            Chiểu Sắc lệnh số 33 ngày 22/3/1946 và số 71 ngày 22/5/1946 tổ chức Quân đội Quốc gia Việt Nam;

Xét rằng những quân nhân bị thương tật và thân nhân các tử sĩ cần phải được cấp dưỡng;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Sau khi đã hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội và sau khi Hội đồng Chính phủ đã thỏa thuận,

RA SẮC LỆNH

MỤC ĐÍCH SẮC LỆNH

Điều thứ 1. Nay đặt ra “HƯU BỔNG THƯƠNG TẬT” VÀ “TIỀN TUẤT CHO THÂN NHÂN TỬ SĨ”.

CHƯƠNG THỨ NHẤT

Hưu bổng thương tật:

            Điều thứ 2. Những quân nhân thuộc các ngành Quân đội Quốc gia Việt Nam nếu trong lúc tại ngũ, vì giao chiến với quân địch, vì thừa hành công vụ, vì tận tâm với một việc ích chung, hoặc vì cứu một hay nhiều người mà bị thương tật, thì được hưởng Hưu bổng thương tật.

Điều thứ 3. Hưu bổng thương tật không tính theo hạng thâm niên của binh sĩ, chỉ căn cứ vào tật bệnh nặng hay nhẹ do Hội đồng Quân y Bộ Quốc phòng xét định.

Hiện nay số tiền Hưu bổng thương tật mỗi tam ca nguyệt, theo độ tật bệnh, ấn định trong ba khoản dưới đây, áp dụng cho:

1. Binh và sĩ

2. Úy và tá

3. Tướng

Bệnh tật xếp thành các độ, độ trên cách độ dưới 5% (bắt đầu từ 5% cho đến 100%). Các số tiền Hưu bổng thương tật sẽ do một nghị định của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ấn định sau khi đã thỏa hiệp với ông Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều thứ 4. Nếu Hội đồng quân y xét thương tật không thể tăng hoặc giảm, thì được cấp hưu bổng vĩnh viễn ngay.

Nếu tật bệnh có thể tăng hoặc giảm, thì chỉ cấp “Hưu bổng tạm thời” trong 3 năm đầu; cứ mỗi năm lại xét một lần, tùy theo tật bệnh tăng hay giảm mà ấn định lại số hưu bổng. Hết ba năm thì cấp hưu bổng vĩnh viễn thì cấp hưu bổng vĩnh viễn theo ché độ tật bệnh lúc bấy giờ.

Điều thứ 5. Những quân nhân bị thương tật từ 50 độ trở lên, nếu có con chính thức đủ điều kiện trong điều thứ 8 sau này sẽ được lĩnh gia cấp, bất cứ là được cấp hưu bổng vĩnh viễn hay là tạm thời. Gia cấp cho mỗi suất con, mỗi tam ca nguyệt sẽ do một nghị định của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ấn định sau khi đã thỏa hiệp với ông Bộ trưởng Bộ Tài chính.

CHƯƠNG THỨ HAI

Tiền tuất cho thân nhân tử sĩ

Điều thứ 6. Những quân nhân tại ngũ trong các ngành Quân đội quốc gia Việt Nam, chết trong những trường hợp sau này thì gọi là tử sĩ: vì giao chiến với quân địch, vì thừa hành một công vụ, vì tận tâm với một việc ích chung, vì cứu một hay nhiều người hoặc nguyên do vì đã bị trọng thương trong những trường hợp ấy mà chết.

Những quân nhân mất tích tại trận, hoặc trong lúc thừa hành công vụ và được Tòa án binh công nhận sự mất tích ấy cũng gọi là tử sĩ, cho đến khi người mất tích ấy lại trở về hoặc có chứng cớ rõ ràng là người ấy còn sống.

Điều thứ 7. Cha, mẹ, vợ, con các tử sĩ được cấp tiền tuất. Tiền tuất cho vợ, con, cha, mẹ sẽ do một nghị định của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ấn định sau khi đã thỏa hiệp với ông Bộ trưởng Bộ Tài chính.

CHƯƠNG THỨ BA

Thể lệ chung và đặc biệt

Điều thứ 8. Cha, mẹ, vợ, con các quân nhân phải có những điều kiện sau này mới được hưởng quyền lợi định trong sắc lệnh này:

1. Còn sống và không mất quyền công dân Việt Nam

2. Vợ: vợ chính, không tái giá, không ly dị và có giấy giá thú làm trước khi người binh sĩ bị thương tật hoặc chết hay mất tích.

3. Con: chưa đủ 18 tuổi và không có vợ, chồng.

4. Cha mẹ: Trên 55 tuổi và do quân nhân ấy cấp dưỡng.

Điều thứ 9. Một người không được hưởng hai quyền lợi định trong sắc lệnh này.

Tuy nhiên người đương sự có quyền chọn một thứ chuẩn cấp lợi hơn mà hưởng, nhưng phải khai rõ thứ trợ cấp ấy và sau này không được xin đổi sang thứ chuẩn cấp khác nữa.

Điều thứ 10. Việc chuẩn cấp sẽ thi hành bắt đầu từ ngày 20/11/1946, nhưng những trường hợp sinh quyên được chuẩn cấp xẩy ra từ ngày 02/9/1945 là ngày tuyên ngôn độc lập của Chính phủ Dân chủ cộng hòa Việt Nam đều được thẩm xét.

Điều thứ 11. Tiền hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ sẽ do ngân sách toàn quốc đài thọ.

Điều thứ 12. Tạm thời và đặc biệt, những chiến sĩ tuy không thuộc quân đội chính quy, nhưng phụ thuộc vào bộ đội, dưới quyền điều khiển của các cấp chỉ huy quân đội Quốc gia Việt Nam, hoặc do quân chỉ huy thừa nhận và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn đều được xem như quân nhân để hưởng hoặc cho thân nhân hưởng các quyền lợi định trong sắc lệnh này.

Điều thứ 13. Người sở quán mất quyền hưởng hưu bổng và tiền tuất trong thời kỳ phải chịu một hình phạt thi thể và gia nhục, do Tòa án tuyên phạt.

Điều thứ 14. Việc chuẩn cấp sẽ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nghị định thỏa hiệp với Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều thứ 15. Một nghị định liên bộ (Quốc phòng và Tài chính) sẽ ấn định thể cách thi hành sắc lệnh này.

Điều thứ 16. Các ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Tài chính chiếu Sắc lệnh thi hành./.

Phó thự:

BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG

(đã ký)

Võ Nguyên Giáp

 

BỘ TRƯỞNG TÀI CHÍNH

  Hà Nội, ngày 16 tháng 2 năm 1947

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ

(đã ký)

 

 

Hồ Chí Minh

     Vũ Thị Lan Anh - Trung tâm Lưu trữ quốc gia III