10:40 AM 25/05/2021  |   Lượt xem: 183  | 

Quyền tự do hội họp là một trong những quyền quan trọng giúp thực thi nhiều quyền dân sự, chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa… là thành tố thiết yếu của một xã hội dân chủ, vì nó cho phép các thành viên bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học, nghệ thuật hoặc các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác.

      Tự do hội họp là một nhu cầu chính đáng của con người, thỏa mãn mong muốn được gặp gỡ, họp mặt để trao đổi, giao lưu, bàn công việc… Việc hội họp có thể mang tính chất gia đình, bạn bè; có thể là sinh hoạt của các tôn giáo, hoạt động của các hội đoàn, để thảo luận, giải quyết công việc của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Đó cũng là quyền của công dân được gặp gỡ để thảo luận, góp ý kiến về các vấn đề chung của Nhà nước và xã hội.

Sắc lệnh số 101-SL/L.003 ngày 20/5/1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh v/v ban bố Luật quy định quyền tự do hội họp.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, Mục lục 1, hồ sơ 17, tờ 28-29.

      Trong khuôn khổ pháp luật quốc gia, quyền tự do hội họp được ghi nhận trong hiến pháp, pháp luật nhiều nước, như: Luật Biểu tình (Đức), Luật về tuần hành, hội họp, biểu tình, diễu hành và tập trung (Nga), Hiến pháp Hoa Kỳ... Tuy nhiên, luật pháp quốc tế, pháp luật các quốc gia đều khẳng định, tự do hội họp là quyền có thể bị giới hạn trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân.

      Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền tự do hội họp, ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định tự do hội họp là quyền cơ bản của công dân và bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 31 nhấn mạnh, tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa; tuy nhiên, những cuộc biểu tình phải khai trình trước 24 giờ với các Ủy ban nhân dân sở tại. Ngày 20/5/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 101-SL/L.003 ban bố Luật quy định quyền tự do hội họp. Sau đó, ngày 14/6/1957 Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ban hành Nghị định 257/TTg quy định chi tiết thi hành Sắc lệnh nói trên.

      Sắc lệnh 101-SL/L.003 gồm 10 Điều, định rõ:

       Điều 1.

      Quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do hội họp.

       Điều 2.

      Không phải xin phép trước:

      - Các cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc, bè bạn;

       - Các buổi sinh hoạt của các hội hợp pháp, tổ chức trong trụ sở của hội, các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng;

      - Các buổi sinh hoạt của các đoàn thể trong Mặt trận dân tộc thống nhất, và các cuộc hội họp công cộng do các đoàn thể này tổ chức.

       Điều 3.

       Để đảm bảo việc giữ gìn an ninh trật tự, các cuộc hội họp công cộng, trừ các cuộc hội họp nói trong Điều 2, phải được Uỷ ban hành chính địa phương cho phép trước.

      Điều 4.

      Người tổ chức cuộc hội họp phải chịu trách nhiệm về cuộc hội họp.

       Điều 5.

      Nếu không theo đúng thể lệ về việc xin phép trước thì người tổ chức, tuỳ trường hợp nặng nhẹ, sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước toà án và cuộc hội họp có thể bị cấm hoặc bị giải tán.

      Trường hợp bị truy tố toà án, người tổ chức cuộc hội họp trái phép sẽ bị phạt tiền từ năm vạn đồng (50.000 đ) đến hai mươi lăm vạn đồng (250.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến sáu tháng, hoặc một trong hai hình phạt ấy.

      Trường hợp cuộc hội họp bị cấm mà vẫn cứ tổ chức hoặc đã bị giải tán mà vẫn cứ tổ chức lại, thì người chịu trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà án và sẽ bị phạt tù từ một tháng đến một năm.

      Điều 6.

      Người nào ngăn cản hoặc phá hoại các cuộc hội họp hợp pháp của người khác, ép buộc người khác tham dự vào các cuộc hội họp bất hợp pháp, bất cứ bằng cách nào, có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.

      Điều 7.

      Người nào lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật lệ hiện hành, và cuộc hội họp sẽ bị cấm hoặc bị giải tán.

      Điều 8.

      Trong tình thế khẩn cấp, xét cần phải tạm thời cấm hội họp, Chính phủ sẽ quyết định.

      Điều 9.

      Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.

       Điều 10.

      Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

                                                                                                                                       

     Trong Điều 8 Nghị định 257 có nêu:  “Trong tình thế khẩn cấp, các Ủy ban Hành chính liên khu, khu, thành phố Hà Nội và Hải Phòng và các tỉnh trực thuộc Chính phủ trung ương có quyền tạm thời hạn chế các cuộc hội họp ở địa phương mình trong thời gian dài nhất là 5 ngày, nhưng phải báo cáo ngay lên Bộ Nội vụ”.

      Có thể thấy, xuyên suốt các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước tới nay, quyền tự do hội họp được khẳng định là một quyền tự do cơ bản của người dân và được Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… theo quy định của pháp luật”. Pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm hành vi xâm phạm quyền hội họp của công dân (Điều 163, Bộ luật Hình sự năm 2015). Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền của mọi người dân được bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai và mạnh mẽ đối với các chủ thể khác mà đặc biệt là đối với Nhà nước. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do hội họp, biểu tình gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước và công dân./.

Nguyễn Thị Ngọc Diệp (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)