11:00 AM 27/03/2015  |   Lượt xem: 337  | 

Bà vô cùng nâng niu và tâm đắc những kỷ vật trong căn nhà của mình như nâng niu từng ký ức được mang về từ những chuyến đi xa, những hành trình thai nghén văn chương của ông.

Người ta hay nói: đứng sau một người đàn ông thành đạt thường là hình bóng một người phụ nữ lặng lẽ. Ở thời nào cũng vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ được ví như một hằng số bất biến ngàn đời. Đó là sự nhẫn nại, hy sinh, thủy chung son sắt. Dù bao tác động của cuộc đời đầy biến cố vẫn không thể vùi lấp được những vẻ đẹp nhẹ nhàng, giản dị đó.

Trong những ngày Hà Nội tưng bừng các hoạt động kỷ niệm, tôn vinh người phụ nữ, tôi lại nhớ về bà, người đã để lại trong tôi nhiều nghĩ suy. Đó là bà Nguyễn Thị Doanh – vợ cố nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Lần nào cũng vậy, mỗi lần đến nơi này, ấn nút chuông rồi chờ tiếng rít lên ken két của cửa sắt, chờ mái tóc bạc trắng, xoăn xoăn và nụ cười nheo mắt của bà, tôi luôn có một cảm giác ấm áp đến kỳ lạ.

Lần nào cũng vậy, bóng dáng người phụ nữ lúi húi bên bếp, tỉ mẩn với mở rau, với củ quả, với thái thái, gọt gọt sẽ là chị - con gái của ông bà.

Lần nào cũng vậy, khi bàn tay gầy xương của bà vừa nắn tay tôi vừa hỏi chuyện, thì chị đã kịp pha cho tôi một cốc nước cam, rồi tíu tít bắt tôi ăn táo, ăn chuối… Tôi cảm thấy ngôi nhà bé nhỏ thôi, cũ kỹ thôi mà sao chan chứa tình người đến vậy.

Bà và chị, hai người phụ nữ gầy mảnh giờ đây, đang ngày ngày tỉ mẩn đi chợ chọn những quả cà về muối, rửa những bẹ rau làm dưa, và kỳ cạch bên nồi cá kho thơm phức. Cũng bàn tay gầy gò ấy, cũng sự tỉ mẩn chắt chiu ấy, đã bao lần lén nhặt những mẩu giấy bé con con đầy những chữ chi chít mà nhà văn Nguyễn Minh Châu cuộn lại để … châm lửa hút thuốc lào. Bà kể lại với nét cười và ánh nhìn xa xăm: “Ông chỉ viết thôi, ông viết nhiều lắm, nhưng viết đấy, rồi lại cuộn lại đốt thuốc ngay được. Khi ông viết tiểu thuyết là quên tất cả mọi chuyện, ông ngồi viết ở đâu cũng được, bàn chẳng ra bàn, chỉ thấy mù mịt khói thuốc lào khét lẹt trên đống cốc chén bừa bãi. Nhà văn là vậy mà, bà là vợ, thì bà lại cẩn thận giấu ngay những trang bản thảo, nếu để đó thì cũng đã không thành tác phẩm được, có những mẩu còn đang cháy dở, bà lại phải vội vàng dập lửa và tỉ mẩn chép lại”.

Ông thật may mắn có một người vợ hiểu mình. Từ xưa, việc tươm tất nhà cửa và con cái đều một tay bà gánh vác để ông an tâm làm nghề. Chính nhờ đó mà nền văn học Việt Nam hiện đại có một cá tính văn chương, một tài năng văn chương từng góp phần tạo nên diện mạo của một nền văn học cách mạng. Và cũng chính nhờ đó, mà bạn đọc có được những tác phẩm như: “Cửa sông”, “Những vùng trời khác nhau”, “Dấu chân người lính”, “Bức tranh”, “Mảnh trăng cuối rừng”, “Phiên chợ Giát”, “Khách ở quê ra”, “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Chiếc thuyền ngoài xa”,… Có thể nói, các tác phẩm của ông không hào nhoáng khoa trương, mà giản dị, mộc mạc dẫn dụ, mê hoặc người đọc các thế hệ nhờ một tấm lòng trắc ẩn kiêu hãnh của một nhà văn trung thực. Sau độ lùi thời gian, văn chương Nguyễn Minh Châu đã chứng tỏ sức sống độc lập và kiêu hãnh của tác phẩm.

 

 Vợ nhà văn Nguyễn Minh Châu

 Nhìn dáng người nhỏ bé của bà cẩn thận lần mở những hòm tôn, hòm gỗ chứa đựng những kỷ vật của ông, những bản thảo giấy đã ngả màu của ông mà tôi không nghĩ nổi trước đây bà từng là một cô văn công của Đoàn ca vũ 2, đã từng thể hiện giọng hát với “Ru con” hay “Câu hò bên bến Hiền Lương” và còn tham gia nhiều tiết mục múa. Bởi lẽ, theo bà kể, sau khi lấy chồng rồi, bà sớm rời đoàn văn công để chuyển sang làm một cán bộ bình thường. Bà học Dược, công tác trong ngành Dược suốt mười mấy năm để đỡ đần chồng theo nghiệp sáng tác.

Thế rồi, sau khi ông mất, cũng chính dáng người nhỏ bé ấy lại từng ngày đạp chiếc xe cà tàng đi gặp những người bạn, người đồng nghiệp của ông để xin từng trang bản thảo ông viết. Bà làm điều này vì bà chỉ mong lượm lặt lấy toàn bộ những tác phẩm của ông, những di cảo của ông cho đầy đủ.

 

 Tủ sách để tác phẩm của nhà văn Nguyễn Minh Châu

 Chiếc hòm tôn, bên trong chứa nhiều di cảo, kỷ vật của ông được bà gói trong nhiều lớp nilon cũ kỹ. Bà sột soạt mở từng gói để cho tôi xem. Những chồng bản thảo ố vàng nước thời gian minh chứng những khó khăn nhọc nhằn của nghề viết. Bà bảo, bà cũng từng là lính, nên hiểu được công việc của chồng mình. Từ ngày ông mất, bà tập hợp bản thảo chẳng bỏ đi một chữ nào của ông. Cũng nhờ ông phù hộ, mà cả bởi tình tin yêu của bà đối với ông, mà bà thấy khỏe ra, rồi gìn giữ những bản thảo của ông, nhờ bạn bè văn chương, bạn bè nhà báo giúp, nên vừa có sách lại vừa thêm chút chi phí đỡ đần tuổi già. Tôi hiểu, sự nghiệp của ông, có các tác phẩm của ông mà bà và gia đình sống có ý nghĩa hơn rất nhiều.

Bà vô cùng nâng niu và tâm đắc những kỷ vật trong căn nhà của mình như nâng niu từng ký ức được mang về từ những chuyến đi xa, những hành trình thai nghén văn chương của ông. Bà giữ cả những chiếc bút, cặp kính, chiếc bàn,… tất cả những thứ đã thức cùng ông đêm đêm với sức sáng tạo dường như chưa bao giờ mệt mỏi.

Tuy nhiên, bà chỉ thuần túy cất giữ, mà không hề có kinh nghiệm bảo quản khối tài liệu và kỷ vật này, nên mặc dù có nhiều lớp hòm tôn, có nhiều lớp nilon chằng buộc, nhưng qua năm tháng, những giấy đã ố vàng, những nét chữ đã mờ nhòe. Cũng bởi thế mà bao lần bà trằn trọc trăn trở vì khi đọc những trang giấy của ông, chỉ thiếu 1 chữ bị nhòe rách mà bà không thể luận nổi. Bà hiểu, chỉ lệch một từ có thể thay đổi toàn bộ ý tứ của tác phẩm. Chính thế nên bà chỉ biết trông đợi vào niềm tin, vào tâm linh. Và như một sự kỳ diệu của 2 trái tim tri ân, trong giấc mơ, bà lóe lên ý nghĩ nhớ về chữ đó. Và bà hoàn thành việc chép lại nguyên bản thảo của ông một cách thanh thản, trọn vẹn.

Một số kỷ vật của ông đã được bà trân trọng gửi tặng Bảo tàng Nhà văn, một số bà giữ làm kỷ niệm. Còn khối bản thảo, thư từ của ông thì bà đã tin tưởng gửi bảo quản tại Lưu trữ quốc gia. Bà tin rằng với trang thiết bị hiện đại, cùng nghiệp vụ bảo quản bài bản, những tác phẩm của ông, những nét chữ của ông sẽ được bảo quản an toàn vĩnh viễn, nhờ đó giá trị các tác phẩm sẽ vượt qua mọi thời đại, với thật nhiều thế hệ độc giả.

Trò chuyện trong căn phòng tập thể bé nhỏ với hai người phụ nữ bé nhỏ, thỉnh thoảng lại ken két tiếng cửa sắt ra vào từ các phòng bên, trong mùi hương thoang thoảng từ ban thờ ông, tôi cố gắng hít hà, tận hưởng cái ấp áp của tình người nơi đây. Bà và chị bé nhỏ thôi, nhưng có đủ các phẩm hạnh: chắt chiu, chăm chỉ, tận tụy và quyến rũ.

Người Việt Nam có câu “Người ta là hoa của đất”. Trong đó, phụ nữ chính là những bông hoa xinh đẹp nhất, rạng rỡ nhất. Có đóa hoa kiêu hãnh trên chính trường tranh tài cùng các đấng mày râu, có đóa hoa hút hồn người với nhan sắc rạng rỡ khó cưỡng, có đóa hoa đi vào huyền thoại với kỹ nghệ trăm năm khó gặp, và lại có đóa tỏa hương thầm lặng mà dai dẳng bên bếp lửa gia đình. Bà và chị là những đóa hoa thơm mát dịu nhẹ như vậy./.

Bài và ảnh: Luyện Thu Thủy - TTLTQG III