10:09 AM 09/11/2021  |   Lượt xem: 172  | 

Từ 02/11 - 8/11/1946, Quốc hội họp để thảo luận về bản dự án Hiến pháp Việt Nam. Ông Đỗ Đức Dục, ủy viên thuyết trình báo cáo chung về bản dự án Hiến pháp. Dự án Hiến pháp Việt Nam trình bày với Quốc hội là do Tiểu ban Hiến pháp mở rộng (21 người) sửa lại bản dự án Hiến pháp khởi thảo. Những cuộc thảo luận của Tiểu ban Hiến pháp đã chú ý đặc biệt đến những nguyên tắc chính thể tập quyền hay phân quyền. Và Tiểu ban đã thảo luận theo quan niệm căn bản tôn trọng nền dân chủ chân chính.

Tiểu ban mới đã giới hạn bớt quyền hạn của Ban Thường vụ và đặc biệt sửa chữa quyền tư pháp. Sau cuộc cách mạng Tháng Tám, đã có nhiều sự băn khoăn giữa các cơ quan hành chính và tư pháp. Do đó quyền tư pháp độc lập chỉ được đảm bảo phần nào, chú trọng theo nguyên tắc độc lập, không phải là biệt lập. Về quyền cá nhân, Tiểu ban Hiến pháp mới cũng như cũ, đã đặc biệt chú trọng về phụ nữ, quốc dân thiểu số, những ông già, tàn tật. Nhưng Tiểu ban Hiến pháp mới đã cố làm cho quyền cá nhân được rõ rệt hơn. Nhất là quyền của quốc dân thiểu số đã được nêu rất rõ ràng như ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, nhưng quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung và tại các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng mình. Ngoài ra quyền tài sản cũng được Tiểu ban mới nêu lên rất rõ ràng. Lần lượt 70 điều của bản dự án Hiến pháp được thảo luận kỹ càng, sửa đến từng câu chữ.

 

Cụ Huỳnh Thúc Kháng phát biểu trong kỳ họp, tháng 11/1946. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản.

 

Có thể thấy một số điểm nổi bật về dự án Hiến pháp lần này

1. Hiến Pháp chứng tỏ Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường dân chủ;

2. Hiến pháp đã chú trọng đến thực tế, theo sát sự sinh động linh hoạt của đời sống nhân dân để đem lại quyền lợi cho nhân dân;

3. Hiến pháp toát lên tinh thần Việt Nam là một nước chủ quyền, độc lập.

Phiên họp ngày 8, ngày 9/11/1946 là phiên luận bàn lần cuối để đi đến nghị quyết thông qua bản Hiến pháp hoàn thiện và cũng là Bế mạc Kỳ họp này. Ngoài ra, trong 2 ngày ấy, Luật Lao động, quyền quan thuế, về đồng giấy bạc Việt Nam và một số vấn đề khác cũng cũng được Quốc hội thảo luận, thông qua. Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa I đã thành công rực rỡ.

Sau đây là bản tường thuật của Báo Cứu Quốc.

Phiên họp ngày 8/11/1946

Buổi họp Quốc hội sáng nay khai mạc lúc 8 giờ 30. Theo lời ông Chủ tịch Trần Hữu Dực, Tiểu ban Hiến pháp sẽ mang ra trình Quốc hội những “Lời nói đầu” trong dự án Hiến Pháp. Rồi đến đại biểu các nhóm phát biểu ý kiến chung về Hiến pháp. Sau các đại biểu Quốc hội sẽ biểu quyết toàn thể dự án Hiến pháp. Sau nữa, một đại biểu sẽ trình với Quốc hội những Luật Lao động và ông Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến sẽ đến để Quốc hội chất vấn về vấn đề tài chính trong nước, vấn đề giấy bạc Việt Nam và vấn đề quan thuế.

Nhưng suốt buổi họp, Quốc hội chỉ mới làm xong được có một việc thứ nhất là ấn định trong chương trình nghị sự.

Ông ủy viên thuyết trình Đỗ Đức Dục đọc “Lời nói đầu” đề Quốc hội xét.

“Lời nói đầu” đọc lên gây nên một cuộc tranh luận.

Cuối cùng, ông Xuân Thủy đề nghị: Để các đại biểu chép rành rọt “Lời nói đầu” rồi để các đại biểu nghỉ 15 phút, đủ thời giờ suy nghĩ, các đại biểu sẽ họp lại thảo luận sau. Đồng thời trong 15 phút nghỉ, Tiểu ban Hiến pháp cũng có đủ thì giờ để xét lại rồi sẽ trình bày với Quốc hội. Các đại biểu tán thành.

Sau 15 phút nghỉ, ông Dục đề nghị:

- Bàn ngay không xong, một nhóm cử một đại biểu phát biểu ý kiến của nhóm mình nên thêm, bớt những gì trong “Lời nói đầu”. Tiểu ban Hiến Pháp sẽ đưa vào đó thảo ra những “Lời nói đầu” khác rồi đem ra biểu quyết trong một buổi họp sau. Nếu đã chuẩn bị ý kiến rồi, xin lên phát biểu. Trái lại, xin ghi vào giấy rồi đưa lại tiểu ban.

Ông Hoàng Anh tán thành đề nghị đó. Các đại biểu cùng biểu quyết theo.

Ông Dục đọc lại toàn thể bản dự án Hiến pháp để Quốc hội thông qua lại một lần nữa.

Trước khi đọc, ông xin các đại biểu cho biết ý kiến về mấy điều, sau khi xét lại bản dự án Hiến pháp, Tiểu ban Hiến pháp thấy cần phải sửa đổi:

1. Về ý

2. Về hình thức, lời văn.

Quốc hội đã biểu quyết một vài điều sửa đổi.

Sau khi ông Dục đọc xong bản Hiến pháp, và Quốc hội sửa đổi lại vài điều, ông Trần Hữu Dực tuyên bố bế mạc buổi họp lúc 11 giờ 20.

Và ông nói thêm rằng nếu cần, Quốc hội sẽ họp gấp trong đêm nay để làm cho xong những việc bỏ dở trong chương trình nghị sự.

Phiên họp buổi chiều

Chiều nay, Quốc hội biểu quyết về toàn thể bản dự án Hiến pháp đã thảo luận ráo riết trong mấy hôm nay. Ông Trần Hữu Dực vẫn ngồi ghế Chủ tịch. Chương trình chiều nay chia làm ba phần:

1) Thảo luận về Bản Tuyên ngôn cho Hiến pháp. Các đảng phái phát biểu ý kiến đối với Hiến pháp.

2) Biểu quyết về bản Hiến pháp đã thảo luận.

3) Chất vấn ông Bộ trưởng Bộ Tài chính về vấn đề giấy bạc 500đ. Việc quan thuế ở Hải Phòng và việc phát hành giấy bạc Việt Nam.

Ông Tôn Quang Phiệt đọc bản Tuyên ngôn mà Quốc hội giao cho ông thảo. Đại khái bản Tuyên ngôn vạch ra mấy điểm:

Hiến pháp Việt Nam xây dựng trên ba nguyên tắc dưới đây:

1. Đoàn kết toàn dân.

2. Đảm bảo tự do cho toàn thể dân chúng.

3. Thực hiện triệt để chính quyền nhân dân.

Các đại biểu các đoàn thể lần lượt phát biểu ý kiến.

Ông Lê Tư Lành (không đảng phái) – Tôi thay mặt cho các nhóm không đảng phái, tán thành Hiến pháp ở mấy điểm:

1) Bao hàm ý nghĩa đại đoàn kết.

2) Cấp tiến.

3) Thực tế.

4) Có một đặc tính Việt Nam là cờ đỏ sao vàng và tiến quân ca.

Ông Phan Tư Nghĩa (xã hội) – thay mặt cho Đảng Xã hội: Tôi rất hoan nghênh bản Hiến pháp. Chúng tôi còn muốn bản Hiến pháp ghi thêm vào nhiều nữa:

1. Bảo đảm lao động.

2. Kinh tế chỉ huy.

Nhưng trong hoàn cảnh thực tế hiện giờ, chúng tôi đặt quyền lợi quốc gia lên trên chính kiến của đảng tôi.

Ông Hồ Đức Thành (Cách mạng đồng minh):

Tôi thay mặt cách mạng đồng minh tán thành Hiến Pháp ở mấy điểm:

1) Nam nữ bình quyền.

2) Chế độ rộng rãi về bầu cử và ứng cử.

3) Bảo vệ lao động và đồng thời duy trì quyền tự do tư hữu.

4) Chế độ độc viện.

Ông Đỗ Đức Dục (Dân chủ Đảng): Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã biểu hiện đầy đủ tinh thần dân chủ trực tiếp và chính quyền nhân dân. Hiến pháp của nước Việt Nam đã phản ánh đúng những điều kiện thực tế.

Theo bản Hiến Pháp này dân chúng đã đóng vai trò hoạt động, không như ở một vài nước Hiến pháp là bùa chú kìm hãm, đàn áp dân chúng.

Trong khi thảo luận Hiến pháp các đại biểu đã đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết và tin tưởng triệt để vào nền dân chủ.

Ông Phạm Gia Đỗ (Quốc Dân Đảng)

1) Đề nghị bỏ chế độ kiểm duyệt, cho tự do xuất bản ấn loát.

2) Tán thành chế độ Ủy ban nhân dân nhưng Chủ tịch UBHC tỉnh và huyện do Chính phủ cử.

3) Không tán thành một viện. Chế độ một viện là độc tài của đa số. Phải có chế độ hai viện.

4) Nghị viện Việt Nam không có cơ quan kiểm soát. Phải đặt một cơ quan kiểm soát.

Ông Hoàng Anh (Việt Minh) – tôi tán thành bản Hiến pháp và tôi ghi mấy điều chỉnh:

1) Công việc thảo luận làm mau chóng, nhưng không phải vội vã hấp tấp.

2) Hiến pháp này không hẹp hòi, máy móc mà có tính chất thỏa thuận dung hòa.

3) Không phân biệt đảng phái. Các đại biểu đã làm theo đường lối Hồ Chủ tịch là chỉ có một đảng Việt Nam.

Ông Khuất Duy Tiến (Mac-xit):

1) Hiến pháp rất cấp tiến. Cấp tiến hơn cả Hiến pháp các nước tiên tiến.

2) Chính thể tập quyền và phân công rõ ràng.

Ông Tiến có trả lời ông Độ về mấy lời ông ta tuyên bố ban nãy:

- Chúng ta ai cũng tha thiết với tự do. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng tự do của cá nhân không được trái với quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Cá nhân muốn thực hiện tự do của mình thì phải nỗ lực lúc tranh đấu cho Tổ quốc.

Sau khi các đảng phát biểu ý kiến xong, trưởng đoàn Chủ tịch yêu cầu bỏ phiếu. Quốc hội tán thành biểu quyết bằng giơ tay.

Toàn thể quốc hội có 242 vị.

Khi biểu quyết 240 vị giơ tay tán thành trong đó chúng tôi nhận thấy có cả đại biểu Quốc dân Đảng. Hai phiếu phản đối là ông Nguyễn Sơn Hà (không đảng phái) và ông Phạm Gia Đỗ (QDĐ). Khi toàn thể Quốc hội giơ tay thì công chúng ở khán đài reo hò và vỗ tay vang dậy. Ông Diệp Ba đề nghị toàn thể Quốc hội đứng dậy hát Tiến quân ca. Mọi người đứng dậy và bài hát hùng mạnh được tất cả mọi người cùng ca lên.

Chất vấn ông Bộ trưởng Bộ Tài chính

Quốc hội chất vấn ông Lê Văn Hiến về ba điều:

1) Đồng bạc 500đ.

2) Quan thuế ở Hải Phòng.

3) Đồng bạc Việt Nam.

Về đồng bạc năm trăm đồng, ông Hiến tuyên bố:

- Chính phủ Việt Nam không thừa nhận đồng bạc 500đ hay một thứ giấy bạc nào khác nếu không được Chính phủ Việt Nam đồng ý và thỏa thuận. Việt đổi chác giấy bạc 500đ hiện nay đã có một tiểu ban Việt - Pháp đang thảo luận và sẽ giải quyết vấn đề này.

Về việc quan thuế ở Hải Phòng, ông Lê Văn Hiến đáp:

- Quân đội Pháp ở Hải Phòng đã làm nhiều việc rắc rối về quan thuế. Gần đây họ lại tự tiện chiếm đóng sân kho, thu thuế ngoại thương, khám xét thuyền bè như thế là trái với Hiệp định sơ bộ và Tạm ước 14/9.

Chính phủ Việt Nam đối với việc này đã gửi thư phản kháng. Chính phủ sẵn sàng dàn xếp bằng hòa bình nhưng cương quyết bảo vệ quan thuế của mình.

Ông Tô Quang Đẩu, đại biểu Kiến An: Dân chúng miền quê đã sẵn sàng đợi mệnh lệnh của Chính phủ để hy sinh tới cùng bảo vệ nền quan thuế Việt Nam.

Tới việc đồng bạc Việt Nam, ông Dực trình Quốc hội những bức điện văn và thư từ ở khắp Trung Nam Bắc yêu cầu phát hành đồng bạc Việt Nam, ông Ngô Thế Phúc, đại biểu Bắc Ninh yêu cầu Quốc hội chỉ nhận tiền phụ cấp bằng giấy bạc Việt Nam để tỏ những đại biểu quốc dân đã đi trước về vấn đề này. Quốc hội tán thành.

Khi ông Hiến trả lời xong, ông Trần Huy Liệu đề nghị gửi ba bản Nghị quyết Chính phủ yêu cầu cương quyết đối phó với Pháp về đồng bạc 500đ, việc quan thuế ở Hải Phòng, yêu cầu cho phát hành ngay đồng bạc Việt Nam ở Bắc bộ.

Phiên họp tối 8/11/1946

Phiên họp dưới quyền chủ tọa của ông Đỗ Đức Dục bắt đầu từ 8 giờ.

Trước khi bàn đến Luật Lao động, ông Chủ tịch nói để Quốc hội biết Chính phủ đã trả lời bằng giấy hai câu hỏi: Việc thuế môn bài các nhà xuất bản Việt Nam, và việc bổ dụng các viên quản lý văn khố. Vì đại biểu nào đã hỏi hai câu đó có thể xem thư trả lời ở phòng thư ký. Sau ông Trần Huy Liệu, ủy viên thuyết trình của Tiểu ban Lao động lên diễn đàn trình bày cùng Quốc hội những công tác và quan niệm của Tiểu ban.

Về công tác, tiểu ban có 7 người, tiểu ban đã xét bản dự luật của Chính phủ dày tới 36 trang. Muốn công việc khảo sát được cẩn thận cần phải hàng tuần. Nhưng công việc cần phải nhanh chóng, tiết kiệm thì giờ, không thể đưa ra Quốc hội trình bày từng khoản, nên Tiểu ban thu ngắn bản dự luật lại những điều cốt yếu trong 4 trang. Trong khi làm việc, Tiểu ban đã được đại biểu Tổng Liên đoàn, đại biểu Viện Thương mại tham gia ý kiến, các đại biểu nghiệp chủ, công nhân tranh luận, ông Bộ trưởng Bộ Lao động cũng giúp nhiều ý kiến.

Về quan điểm, Tiểu ban đã không căn cứ hẳn vào các bộ Luật Lao động ở các nước Âu Mỹ, nói là tư bản đối lập hẳn với lao động. Ở nước ta, nền kinh tế cần phải được phát triển, thực tế bắt buộc phải dung hòa cả hai quyền lợi của nghiệp chủ và của lao động để kiến thiết quốc gia. Tiểu công nghệ ở nước ta cần phải được phục hưng, vậy cần phải có những điều kiện dễ dàng để phát triển một cách triệt để. Đạo Luật Lao động cần phải thi hành một cách nhanh chóng vì tình hình kinh tế nước ta theo bản thỏa hiệp 14/9.

Nói tóm lại, ông ủy viên thuyết trình nói, Luật Lao động này không có ý giai cấp tranh đấu mà có ý đoàn kết triệt để, dung hòa quyền lợi của cả đôi bên.

Tiếp lời ông Trần Huy Liệu, ông Bộ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Tạo kể những giai đoạn tranh đấu của công nhân Việt Nam từ Bắc chí Nam, những sự thảm sát ở Bến Thủy, ở Phú Riềng, Hồng Gai, Hà Nội, Hải Phòng, Ba Son, Sài Gòn.

Bản Luật Lao động theo những nguyên tắc cần bàn sau này:

- Nhìn nhận lao động, không được ai bó buộc, lao động phải được tôn trọng, giá trị phải được xứng đáng.

- Định rõ rệt chế độ học nghề.

- Định rõ thể lệ trong việc lập và thi hành khế ước.

- Định rõ phụ cấp cùng việc chia lại.

- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ.

- Bảo vệ công nhân phụ nữ và trẻ em.

- Bảo vệ sức khỏe công nhân.

- Quyền tập hợp và đình công của công nhân.

Ông Bộ trưởng Bộ Lao động mong rằng Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua vậy Luật Lao động của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng được Quốc hội thông qua để công nhân Việt Nam xứng đáng với giá trị của mình và theo kịp các công nhân những nước cấp tiến trên thế giới.

Toàn thể Quốc hội hoan hô lời nói của ông Nguyễn Văn Tạo. Sau khi bàn cãi rất lâu về cách làm việc, Quốc hội quyết định xét từng nguyên tắc căn bản của bản dự án và Quốc hội đã thông qua những nguyên tắc sau đây do ông ủy viên thuyết minh trình bày:

1) Phạm vi thi hành: áp dụng cho tất cả các công nhân, nhưng nông nghiệp, gia nhân, công nhân Chính phủ sẽ có những đạo luật riêng quy định.

2) Bảo đảm học nghề.

a) Cấm không được dùng người học nghề dưới 12 tuổi.

b) 18 tuổi phải kể là thợ chính thức, nếu cứ cho là lành nghề, nếu chủ không chịu sẽ có 1 hội đồng chuyên môn định đoạt.

c) Số thợ học nghề không được quá ¼ số thợ lành nghề.

d) Nếu số tập nghề quá 30 phải mở lớp tu nghiệp.

3) Khế ước làm việc:

a) Khế ước ký kết theo dân luật.

b) Đôi bên thỏa thuận có thể bãi khế ước và bảo trước ít nhất là một tháng.

c) Nếu bãi khế ước không có cớ chính đáng phải bồi thường.

d) Người chủ mới biết có khế ước mà cứ dùng thợ sẽ phải bồi thường liên đới cho người chủ cũ.

4) Cai thầu:

a) Cai thầu phải khai số lượng tối thiểu.

b) Chủ phải thay cai thầu trả lương nếu cai thầu không trả.

5) Khế ước tập hợp:

a) Thi hành cho các đoàn thể.

b) Kế ước hết hạn có thể thi hành thêm 6 tháng, nếu muốn sửa đổi phải nói với Ty Lao động.

6) Tiền công:

a) Lương tối thiểu do Chính phủ định theo Hội đồng các đại biểu đề nghị.

b) Tiền công không phân biệt trai gái, chỉ phân biệt lớn bé nghĩa là dưới 15 tuổi.

c) Lương phát ít nhất mỗi tháng 2 kỳ.

d) Cấm lưu công.

Đ) Cấm phát vào tiền công.

7) Kỳ, quý sẽ nộp vào công khố, nếu có lại, lại phải chia cho công nhân.

8) Phụ cấp gia đình:

a) Mọi công nhân đều được hưởng.

b) Các chủ phải đóng theo tỷ lượng lương.

9) Phụ cấp thâm niên để thay bảo hiểm thất nghiệp, giá cả:

a) Mọi công nhân đều được hưởng.

b) Sẽ không được hưởng nếu tự ý ra làm với chủ khác hay phạm trọng tội.

c) Sau 15 năm có thể tự ý xin thôi.

d) Khi chết, vợ và con dưới 18 tuổi được hưởng mỗi năm là 50 đồng.

10) Tham gia chia lại, chia lại cuối năm. Bộ Lao động sẽ định tỷ lệ cho mỗi xí nghiệp.

11) Xí nghiệp khai trình:

a) Nếu số công nhân quá 10 người, phải khai với Ty Lao động.

b) Nếu quá 25 người phải trình nội quy.

12) Điều kiện làm việc: Cấm dùng trẻ dưới 12 tuổi. Ty Lao động sẽ săn sóc đến đội làm việc của trẻ từ 12 đến 18 tuổi.

13) Hạn làm việc:

a) Một ngày 8 giờ, mỗi tuần 48 giờ.

b) Trong hầm mỏ hay kỹ nghệ có hại đến sức khỏe, số giờ sẽ giảm xuống 45 giờ. Danh sách các xí nghiệp này sẽ do Bộ Lao động định.

c) Cấm dùng đàn bà trẻ con dưới 18 tuổi làm đêm (đêm nghĩa là từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng): muốn làm đêm phải có Ty Lao động cho phép.

14) Nghỉ hàng tuần: mỗi tuần lễ 24 giờ liền.

15) Nghỉ ăn lương (ngày lễ): 4 ngày Nguyên đán, 1/1 dương lịch, quốc khánh, độc lập, thiên chúa giáng sinh và phật đản.

16) Lễ nghỉ của sản phụ: 8 tuần lễ nửa lương. Xí nghiệp có 100 công nhân phụ nữ phải có nhà cho trẻ em bú.

17) Nghỉ hàng năm ăn lương: 10 ngày liền lĩnh cả lương và phụ cấp, gia trước khi nghỉ.

18) Nghỉ vì đau ốm: nhiều nhất là 20 ngày cả lương.

19) Điều kiện riêng ở mỏ: cấm dùng trẻ con dưới 15 tuổi.

20) Nghề vũ nữ, ả đào, cấm dùng trẻ con trai gái dưới 15 tuổi.

21) Công nhân ngoại quốc:

a) Muốn dùng phải có phép của Chính phủ Việt Nam.

b) Không quá tỷ số công nhân Việt Nam.

c) Công nhân Việt Nam phải được bảo đảm tương đương.

22) Vệ sinh – phải đủ phương tiện bảo đảm sức khỏe của công nhân (y sĩ, y tá, bệnh viện).

23) Tai nạn – do lỗi tại ai, khi phải nghỉ quá 4 ngày thì chủ phải bồi thường.

24) Quyền tổ chức:

a) Lập công đoàn

b) Có tư cách pháp nhân.

c) Vào Tổng Liên đoàn.

d) Lập Ủy ban.

25) Quyền bãi công, đoạn này ông Ủy viên thuyết trình tin tưởng các công nhân sẽ hiểu rõ rệt quyền đó liên quan đến nền kinh tế quốc gia.

Ông Dương Đức Hiền đề nghị các chủ các xí nghiệp phải giúp đỡ những phong trào thể dục, thể thao, nâng cao trình độ văn hóa, các tổ chức như hợp tác xã của công nhân, nhưng Quốc hội thông qua không xét tới.

Mấy đại biểu khác yêu cầu Bộ Lao động để ý tới chế độ làm khoán, chế độ công nhật (ở các mỏ) và chế độ nông nghiệp, ngư nghiệp, v.v…

Sau cùng, một đại biểu của Tổng Liên đoàn trong Quốc hội cám ơn Quốc hội, Chính phủ và hy vọng công nhân sẽ được hưởng thêm nhiều quyền lợi nữa.

Phiên họp bế mạc lúc 24 giờ.

Phiên họp ngày 9 tháng 11 năm 1946

Ông Đỗ Đức Dục ngồi ghế chủ tịch phiên họp bên cụ Ngô Tử Hạ.

Chương trình nghị sự:

- Việc trưng cầu dân ý về Bản Hiến pháp.

- Viện ban bố thi hành Hiến pháp.

- Nhiệm vụ Quốc hội.

- Ban Thường trực Quốc hội.

- Duyệt y các nghị quyết.

Về việc có nên đem Bản Hiến pháp Việt Nam trưng cầu dân ý không, ông chủ tịch Đỗ Đức Dục yêu cầu các đại biểu phát biểu ý kiến.

Ông Tôn Quang Phiệt, Trưởng ban dự thảo Hiến pháp nói trước tiên, là không cần vì Hiến pháp đã thảo và Quốc hội đã đưa theo nguyện vọng nhân dân lập thành Hiến pháp.

Tiếp theo ông Phiệt, nhiều đại biểu nữa cũng có ý kiến như vậy hoặc nói thêm là sự trưng cầu dân ý chỉ là hình thức, Hiến pháp đã sát với nguyện vọng dân chúng, như vấn đề quốc kỳ, quốc ca, một viện.

Ông Chủ tịch sau khi nghe các đại biểu, nói việc trưng cầu dân ý là một việc quan trọng các đại biểu phát biểu ý kiến rất nhiều.

Nhưng các đại biểu khác cũng đứng lên ngỏ ý không khác gì các đại biểu trước là không cần trưng cầu dân ý.

Có đại biểu nói lý do vì nếu tổ chức trưng cầu thì chưa được khắp cả 3 kỳ. Song nhiều đại biểu khác phản đối, đại ý cuộc Tổng tuyển cử tổ chức được thi cuộc trưng cầu dân ý cũng được. Nhưng không đem trưng cầu vì dân chúng muốn gì thì đều đã được ở trong ban hiến Pháp. Sở dĩ, Hiến pháp nước Pháp không được đa số tuyệt đối trong Nghị viện nên mới đem trưng cầu. Còn Hiến pháp nước Việt Nam được toàn thể Quốc hội tán thành. Ngoài ra việc trưng cầu dân ý dù có nhanh chóng cũng mất rất nhiều thì giờ, nếu vì tiết kiệm thời gian mà không trưng cầu dân ý, để thì giờ sức lực đó làm những việc cần ích khác.

Ông Xuân Thủy nói rõ ràng hơn «Dân chúng tin rồi dân chúng lại có thể ngờ được các đại biểu », Theo ông thì nguyên tắc trưng cầu dân ý và quyền trưng cầu dân ý của dân vẫn được tôn trọng nhưng không trưng cầu là vì những lẽ như trên các đại biểu đã nói.

Tới đây, ông Chủ tịch Đỗ Đức Dục đặt câu hỏi lại để biểu quyết vì lúc này, theo lời ông, đã đặt câu hỏi sai.

Sau cuộc biểu quyết, kết quả: tổng số 285 người thì 227 người không tán thành cuộc trưng cầu dân ý.

Ông Chủ tịch nói lấy tư cách là chủ tịch phiên họp, ông trịnh trọng tuyên bố Bản Hiến pháp trở nên chính thức trong buổi họp 9/11/1946.

Tiếng vỗ tay nổi dậy, mọi người đứng lên hoan nghênh Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Tiếp sang đến cuộc thảo luận về vấn đề thứ hai ‘nên ban bố Hiến pháp và thời gian ban bố như thế nào ?’.

Nhiều vị phát biểu ý kiến đại ý đã hơn một năm dân chúng mong mỏi chờ đợi Bản Hiến Pháp vậy nên ban bố ngay, có vị nói nên ban bố bằng mọi cách như tuyên truyền bằng báo chí, hoặc in nhiều Bản Hiến Pháp phát đi các nơi; có vị nói nên ban bố do sắc lệnh nhưng còn sự thi hành thì vì những lẽ chưa thuận tiện không nên thi hành ngay, ví dụ như phải mở cuộc Tổng tuyển cử ngay để lập Nghị viện v.v…

Như vậy Quốc hội chưa hết nhiệm vụ mà biến Quốc hội thành Nghị viện thì nhiều đại biểu phản đối.

Sau một cuộc thảo luận náo nhiệt, đa số biểu quyết không nên ban bố Hiến pháp trong một đạo sắc lệnh và chưa thi hành Hiến pháp ngay.

Còn Quốc hội thì nhiều đại biểu đề nghị Quốc hội lãnh trách nhiệm trong một thời gian nữa cho đến khi thành lập Nghị viện mới.

Tuy chưa có biểu quyết nhưng nhiều vị đồng ý nên Quốc hội bàn luôn sang đến nhiệm vụ của Ban Thường trực Quốc hội. Cuộc biểu quyết và đọc lại đề nghị về nhiệm vụ của Ban Thường trực tổng cộng tới ba lần và kết quả Quốc hội đại đa số đồng ý giao cho Ban Thường trực những nhiệm vụ như:

- Liên lạc với Chính phủ để góp ý kiến và phê bình Chính phủ.

- Cùng với Chính phủ quyết định sự ban bố và thi hành Hiến pháp.

- Triệu tập Quốc hội.

Ông Hoàng Văn Đức đề nghị thêm một vài điều nữa trong sự triệu tập Quốc hội và tuyên chiến, đình chiến, đua theo những nhiệm vụ Quốc hội giao cho Ban Thường trực khóa trước. Không ai có ý kiến gì thêm nữa, Quốc hội tạm nghỉ.

Xét xong các vấn đề linh tinh, Quốc hội bầu Ban Thường trực. Tới gần 1 giờ trưa mới có kết quả như sau đây:

Chính thức:

Trưởng ban: Bùi Bằng Đoàn.

Phó trưởng ban: Tôn Đức Thắng, Tôn Quang Phiệt.

Ủy viên chính thức: Phạm Bá Trực, Dương Đức Hiền, Cung Đình Quỳ, Hoàng Văn Hoan, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Luyện, Trần Văn Cung (Quốc Anh), Dương Văn Dư, Y Ngông Niêkđam, Hoàng Minh Châu, Nguyễn Đình Thi, Lê Thị Xuyến.

Ủy viên dự khuyết: Lê Tư Lành, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Thị Thục Viên.

Phiên bế mạc

Đúng 2 giờ 30, Quốc hội họp phiên cuối cùng.

2 giờ bốn mươi lăm, Hồ Chủ tịch và nhân viên Chính phủ tới nơi, Chủ tịch đoàn ra đón Người vào.

Mọi người an tọa, cụ Chủ tịch Quốc hội giới thiệu Ban Thường trực Quốc hội mới với Hồ Chủ tịch và các ông Bộ trưởng. Cụ Bùi Bằng Đoàn thay mặt toàn Ban cám ơn các Ban đồng viện và xin cam đoan cùng Quốc hội, cùng Hồ Chủ tịch sẽ đem hết sức ra làm việc để khỏi phụ lòng tin cậy của Quốc hội và dân chúng.

Tiếng vỗ tay vang lên khắp phòng.

Xong cụ Chủ tịch Quốc hội đọc bản Quyết nghị ủy nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực thi hành Hiến Pháp. Trong thời kỳ chưa thi hành được thì Chính phủ phải đưa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật. Bản quyết nghị này cũng được Quốc hội chuẩn y.

Tiếp lời cụ Chủ tịch, ông Đỗ Đức Dục đọc Bản Tuyên ngôn của Quốc hội nói với quốc dân toàn quốc về các công việc mà Quốc hội đã làm được.

Dứt lời ông Dực, cụ Chủ tịch Quốc hội mời Hồ Chủ tịch lên diễn đàn tuyên bố cùng Quốc hội.

Giữa những tiếng hoan hô, Hồ Chủ tịch nói đại khái: Trong hơn 10 hôm nay các đại biểu đã làm việc rất khó nhọc và đã thu được một kết quả trường cửu với non sông: ấy là lập được một Bản Hiến pháp.

Cuộc cách mệnh thành công mới có 1 năm mà ta đã làm xong một công cuộc vĩ đại như vậy, nhưng ta cũng chưa lấy thế làm tự mãn, tự túc vì chính ngay cả các nước có Hiến pháp trước ta cũng còn chưa có được những Bản Hiến Pháp thực hoàn toàn.

Hiến Pháp của ta đã tuyên bố những gì?

Hiến Pháp đã tuyên bố rõ ràng nước ta là nước Dân chủ cộng hòa, đã bảo vệ quyền lợi cho dân,… bảo vệ tự do tín ngưỡng.

Quốc hội đã nêu cho Chính phủ những nguyên tắc cần phải thi hành là: tinh thần đoàn kết, nỗ lực làm việc, liêm khiết. Chính phủ đã hết sức làm việc theo các nguyên tắc ấy và hết sức thi hành ba cái quyền dân là: dân tộc, dân sinh và dân quyền.

Hồ Chủ tịch còn nói qua đến Bản Luật Lao động, rồi cuối cùng ngài tỏ lời cảm ơn các đại biểu và mong các đại biểu về các địa phương sẽ hết sức hô hào cho dân đã đoàn kết lại đoàn kết hơn lên, đã làm việc lại nỗ lực làm việc hơn lên vì chỉ có làm việc thì ta mới thực hiện được nước giàu dân mạnh.

Sau cùng, cụ Tôn Đức Thắng, đọc bài diễn văn bế mạc Quốc hội.

Trước khi ra về, Hồ Chủ tịch có yêu cầu toàn thể Quốc hội và dân chúng cùng Người hô mấy khẩu hiệu về đại đoàn kết.

Khóa họp lần thứ hai của Quốc hội Việt Nam bế mạc đúng 3 giờ 30 chiều ngày mồng 9 tháng 11 năm 1946.

Các đại biểu trước khi chia tay, đồng thanh hát bài Quốc ca, rồi mọi người ra dinh Chính phủ để dự tiệc trà thân mật do Hồ Chủ tịch thết Quốc hội và nhiều thân hào trong thành phố.

(Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04 - Bản tường thuật của Báo Cứu Quốc)

 

Tờ trình về bản dự án Luật Quy định chế độ  lao động do ông Nguyễn Văn Tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động trình bày trong phiên họp ngày 8, 9/11/1946 Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khóa I. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 06. 

Nguyễn Thị Ngọc Diệp (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)