11:48 AM 23/02/2021  |   Lượt xem: 147  | 

Những trận càn mở màn cho kế hoạch bình định mới năm 1952 ở Bắc Kỳ của Pháp

    Sau chiến dịch quân sự ở Hòa Bình diễn ra cuối năm 1951, đầu năm 1952, tướng De Linarès-chỉ huy trưởng Lực lượng lục quân Bắc Việt Nam (F.T.N.V) và Thủ hiến Bắc Kỳ Nguyễn Văn Tâm vạch ra kế hoạch bình định mới, mở màn bằng các trận càn mang tên Mưa phùn, Bão táp, Lưỡng cư và Sao Thủy với quy mô lớn ở Nam Đồng bằng châu thổ sông Hồng, áp dụng học thuyết thực dân “vết dầu loang” của tướng Joseph Gallieni (1).

    Pháp đánh giá lực lượng Việt Minh ở nam đồng bằng châu thổ sông Hồng

    Các báo cáo tình báo của Pháp (2) nhận định, cuối tháng 11/1951, quân Việt Minh đóng ở khu vực Nam Đồng bằng châu thổ sông Hồng (khu vực giữa sông Hồng và sông Thái Bình) chỉ có 1 Trung đoàn 42 trong khi các trung đoàn 48, 52 và 64 thuộc Đại đoàn 320 (tài liệu Pháp ghi là sư đoàn) đóng quanh Nho Quan. Nhưng đến đầu năm 1952, gần như toàn bộ Đại đoàn 320 đã vượt sông Đáy và triển khai đóng quân ở đông đồng bằng châu thổ. Ngày 18/01/1952, tướng Linarès được báo cáo về việc 3 tiểu đoàn Việt Minh vượt sông Hồng ở Đông Nam Nam Định tiến về Thái Bình, buộc ông ta phải điều binh đoàn cơ động số 4 về tăng cường cho quân đóng tại khu vực này.

    Cũng theo tướng Linarès, chỉ huy trưởng quân đội Việt Minh sẽ tập trung quân về Đồng bằng châu thổ sông Hồng vừa để củng cố hậu phương bằng cách chiếm lại các vùng đã bị quân Pháp chiếm được sau các đợt càn năm 1951 vừa tăng nguồn tiếp tế lương thực, tăng lực lượng quân chiến đấu chính quy cũng như du kích. Các đơn vị thuộc Đại đoàn 320 của Việt Minh tấn công nhiều đồn binh hay vị trí đóng quân của quân Pháp ở Thái Bình. Ngày 01/02/1952, Việt Minh tấn công chiếm toàn bộ vũ khí, phá hủy hoàn toàn đồn binh La Cao (Kiến Xương) tiêu diệt 11 lính Pháp, 20 bị thương và 53 lính khác mất tích. Cũng trong đêm đó, pháo binh Việt Minh san bằng lô cốt ở Đoài Thôn (Kiến Xương). Liên tiếp sau đó, quân Việt Minh tấn công đồn binh Trà Lý (Tiền Hải) ngày 03/02, ngày 04/02 đến lượt Trà Vi (Vũ Tiên) và Trần Xá (Nam Định) ngày 06/02. Các đồn binh Pháp ở Thần Huống (Thái Ninh), Vũ Lăng (Kiến Xương) bị xóa sổ ngày 10/02, cùng ngày Việt Minh phục kích, gây tổn thất lớn cho một đại đội lính Pháp ở Đông Bắc Thái Bình.

    Đến giữa tháng 02/1952, Pháp lo ngại khi thấy các đơn vị chính quy của Việt Minh triển khai ở Đồng bằng châu thổ sông Hồng giảm, trái với tình hình trước đó nên quân đội Pháp muốn tranh thủ liên tiếp đi càn ở Nam Đồng bằng châu thổ sông Hồng (Nam Định, Thái Bình) hòng giành quyền kiểm soát về quân sự cũng như chính trị. Từ giữa tháng 2/1952, Pháp huy động số quân và phương tiện lớn tham gia các trận càn Mưa phùn (Crachin) từ 16-27/02/1952, Bão táp (Ouragan) từ 01-06/3/1952 và Lưỡng cư (Amphibie) từ 10-23/3/1952, đặc biệt là Sao Thủy (Mercure) từ 23/03 đến 12/4/1952.

Sơ đồ các trận càn năm 1952 của Pháp ở nam đồng bằng châu thổ sông Hồng.

    Trận càn Mưa phùn  

    Ngày 12/02, chỉ huy trưởng lực lượng lục quân Bắc Việt Nam quyết định mở trận càn khá đông quân và nhiều vũ khí đầu tiên mang tên Mưa phùn mà mục tiêu tấn công là các đơn vị của Đại Đoàn 320 đóng ở Đông Thái Bình (khu vực Bắc sông Trà Lý thuộc địa phận các huyện Thái Ninh, Thụy Anh, Đông Quan, Tiên Hưng, Kiến Xương) hy vọng đẩy lùi các đơn vị thuộc đại đoàn này về khu vực giữa sông Trà Lý và sông Diêm Hộ, Đông tỉnh lộ 219.

    Ngày 16/02, binh đoàn cơ động số 4 (gồm 4 tiểu đoàn, 1 đơn vị pháo 105 mm và 1 giàn pháo 155 mm) xuất phát từ Thái Bình tiến về hướng Đông Bắc đi càn các làng nằm giữa sông Hoài và sông Trà Lý, tiếp đến là các làng nằm giữa sông Diêm Hộ, tỉnh lộ 219 và sông Trà Lý và đụng độ với quân Việt Minh ở Vị Thủy và Phất Lộc. Trước đó, chiều ngày 15/02, binh đoàn cơ động số 7 (3 tiểu đoàn, 2 đơn vị pháo 105 mm, 1 trung đội xe tăng cùng một trung đội pháo hạng trung) tiến đánh vùng Kha Lí- An Cố. Ngày 16/02, vượt sông Diêm Hộ đoạn giữa tỉnh lộ 219 và biển, được một toán xe lội nước chi viện, đơn vị này tiến vào đồn binh Bình Lãng và đụng độ với một tiểu đoàn của Trung đoàn 52 quân Việt Minh ở Quảng Nạp. Chỉ huy điều phối hai binh đoàn cơ động số 4 và số 7 được lệnh phải càn quét, bắt bớ mạnh hơn nữa nhằm gây tổn thất lớn nhất cho quân Việt Minh. Ngày 20/02, trong khi Binh đoàn cơ động số 4 tiếp tục vây hãm từ Kinh Hào đến Côn Thôn đồng thời và yểm trợ cho quân Pháp ở đồn binh Văn Hàn, Binh đoàn cơ động số 7 tập trung về Vô Hối, đi càn ở vùng phía bắc sông Diêm Hộ. Quân chiến đấu Việt Minh phản công quyết liệt ở Hạ Đồng và Quân Động đẩy lùi quân Pháp buộc chúng phải dùng pháo binh và không quân tấn công dữ dội vào các làng nhằm gây thiệt hại cho quân Việt Minh.

    Thông tin tình báo Pháp thu thập được cho thấy một phần Trung đoàn 52 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48 của Việt Minh ngược trở về về phía Bắc trong khi số còn lại di chuyển về phía Nam nên buộc quân Pháp phải thay đổi kế hoạch, từ ngày 21/02 hai binh đoàn cơ động chuyển sang hoạt động độc lập. Binh đoàn cơ động số 4 được lệnh phá hủy các căn cứ hoạt động của Việt Minh ở Cao Bạt Lũ, vượt sông Trà Lý ở Kỳ Nhai ngày 21/02 với sự trợ giúp của pháo binh. Sáng 22/02, pháo binh Pháp nã vào Thái Vũ để dọn đường cho lực lượng đi càn do địa hình ao hồ cũng như chống trả của du kích địa phương. Ngày 23/02, giao tranh ác liệt giữa một đại đội lính Pháp và một đại đội du kích ở Cao Bạt Lũ, buộc Pháp phải điều pháo binh đi trước mở đường cho quân tiến sâu vào làng. Theo báo cáo tình báo, Pháp phát hiện hai tiểu đoàn Việt Minh đóng ở phía đông với một số quân bị thương và một số tù binh là lính Việt Nam cộng hòa. Ngày 25/02, được pháo binh và không quân yểm trợ, Binh đoàn cơ động số 4 của Pháp tiếp tục đi càn khu vực giữa sông Trà Lý, sông Long Hầu, sông Kiến Giang, ngày hôm sau chúng tiếp tục đi càn quanh Phú Mỹ (Kiến Xương), và đến tối 27/02 Mưa phùn kết thúc, chúng tập trung ở thôn Đồng Quý chuẩn bị cho trận càn mới. Còn binh đoàn cơ động số 7 rời bắc sông Diêm Hộ di chuyển về Tây Bắc và tiến hành hàng loạt các cuộc càn ở một làng ở các huyện Tiên Hưng và Duyên Hà.

Sơ đồ diễn biến trận càn Bão táp.

    Trận càn Bão táp

    Cuối tháng 2, Pháp tiếp tục huy động hai binh đoàn cơ động số 4 và 7 cho trận càn mang tên Bão táp từ ngày 01-06/3/1952 ở bắc Thái Bình, hòng nhổ bật thậm chí là tiêu diệt các đơn vị của Đại đoàn 320 đóng ở đây. Báo cáo tình báo Pháp cho biết, ban chỉ huy của Đại đoàn 320 cùng hai tiểu đoàn của Trung đoàn 48 đóng ở vị trí giữa sông Trà Lý và sông Luộc, nên Pháp huy động một lực lượng lớn cho đợt càn này gồm 7 tiểu đoàn và hai đơn vị pháo 105 mm, 1 đơn vị xe lội nước thuộc trung đoàn xe bọc thép số 1, 1 pháo 155 mm được hải quân Pháp yểm trợ ngăn quân Việt Minh vượt sông Hồng và sông Luộc.

    Tướng chỉ huy chiến dịch càn quyết tạo thế gọng kìm từ hai hướng quân của Binh đoàn cơ động số 4 tiến hành trên trục Đồng Lệ -Đào Động -Vũ Hạ và Binh đoàn cơ động số 7 xuất phát từ Cổ Quán tiến về Quỳnh Ngọc, ngăn quân Việt Minh di chuyển về hướng tây. Bão táp bắt đầu ngày 01/3/1952, Binh đoàn cơ động số 4 đến Cổ Tiết và Đào Động tập hợp cùng tiểu đoàn 1, trung đoàn lính khố đỏ Marốc số 4 và tiểu đoàn l lính dù nước ngoài số 1 (1er BEP) đóng tại đó, công binh Pháp được lệnh dựng cầu tạm Bailey ngay trong ngày. Ngày 02/3, Pháp nhận được tin tình báo về việc lượng lớn quân Việt Minh tập hợp về Cam Mĩ và An Kí nên cả hai Binh đoàn cơ động số 4 và 7 liên hợp vừa tiến về sông Luộc đi vừa lục soát các thôn làng trên đường tiến quân của chúng và đến chiều, tiểu đoàn 1 (trung đoàn lính Marốc, binh đoàn cơ động số 7) chạm trán với quân Việt Minh trước Chung Linh và phải rút lui dù được không quân lẫn pháo binh yểm trợ. Ngày 03/3, binh đoàn cơ động số 7 tiếp tục đi càn ở phía bắc, Binh đoàn cơ động số 4 chiếm đóng Thượng Phúc và Vũ Hạ trong khi không quân Pháp ném bom napalm xuống làng Đông Xá hòng tiêu diệt đơn vị Việt Minh đóng tại đây.

    Sau khi trận càn kết thúc ngày 07/3, binh đoàn cơ động số 4 đóng tại Thái Bình, trong khi đơn vị số 7 hành quân về phía tây, tiếp tục đi càn tại các làng ở Nam sông Luộc. Trong quá trình di chuyển, đơn vị xe lội nước di chuyển bằng đường sông và ngày 08/3 rơi vào phục kích của quân Việt Minh, 4 lính Pháp bị tiêu giệt, 18 tên khác bị thương, cùng ngày tiểu đoàn lính của Quốc gia Việt Nam số 8 đụng độ với quân Việt Minh ở Đôn Nông (Duyên Hà).

Khu vực tỉnh lộ 73 bắc sông Phủ Lý trong trận càn Lưỡng cư.
 
 
 
Sơ đồ diễn biến trận càn Lưỡng cư.

    Trận càn Lưỡng cư

    Trận càn thứ ba mang tên Lưỡng cư từ ngày 10-23/3/1952 ở Lý Nhân, nơi mà Pháp cho rằng ban tham mưu cùng 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 64 và một số đơn vị chiến đấu vùng của Việt Minh đóng tại đó. Khác với hai trận càn trước đó, Lưỡng cư sử dụng phương pháp truyền thống: mục đích là tấn công các đơn vị của Việt Minh, phá hủy các tổ chức quân sự, chính trị đồng thời triệt hạ các làng là căn cứ chiến đấu của Việt Minh. Lực lượng tham gia trận càn gồm 15 tiểu đoàn, hai đơn vị pháo 105 HM2 và hai pháo 155 HM1, 1 pháo 105 L36 và một phân đội pháo tự hành155 Gun, hai đơn vị xe lội nước, hai đại đội công binh, hai đơn vị Dinassaut (3) và 1 đơn vị vận tải, thông tin liên lạc. Tướng chỉ huy đợt càn chủ trương bao vây toàn khu vực và càn quét nhanh Đại Hoàng, sau đó sang Tây và Đông Lý Nhân tấn công các đơn vị Việt Minh đóng tại đây.

    Ngày 10/3, Binh đoàn cơ động số 4 được bổ sung thêm 1 tiểu đoàn từ Binh đoàn cơ động số 7 bắt đầu bao vây rồi càn quét Lý Nhân. Giai đoạn 2, Binh đoàn cơ động số 1 tiến hành gọng kìm bao vây khu Tây Bắc Lý Nhân rồi càn quét các làng trong khu vực. Trong đêm 12 rạng sáng ngày 13, diễn ra trận đánh giữa một đơn vị Việt Minh và quân Pháp ở Đông Quan. Với sự hỗ trợ của các đơn vị chiến đấu địa phương, các đơn vị chính quy của Việt Minh đã rút khỏi khu vực càn quét ở Lý Nhân của quân Pháp.

    Khi Lưỡng cư vừa kết thúc, Pháp đã chủ trương đợt càn mới với quy mô lớn với âm mưu làm loang rộng hơn “vết dầu” bình định ở Bắc Kỳ.

    Chú thích:

    1. Raoul Salan, Hồi ký, kết cục của một đế chế (Mémoires, fin d’un empire), 1971, trang 306.

    2. Hồ sơ 7 U 1422, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

    3. Viết tắt của Divisions navales d’assaut- các sư đoàn Hải quân xung phong, được thành lập trong chiến tranh Đông Dương với phạm vi hoạt động trên toàn Đông Dương từ 1947-1955, mà tiền thân là Hải đội được thành lập từ 1945 theo đề nghị của tướng Leclerc.

(Còn tiếp)

Ngọc Nhàn (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I)