12:00 PM 09/09/2011  |   Lượt xem: 3753  | 

Hội được thành lập với mục đích truyền bá chữ Quốc ngữ để người dân biết đọc biết viết.

 

 Cụ Nguyễn Văn Tố.

Theo đơn đề nghị của cụ Nguyễn Văn Tố ngày 8.4.1938, ngày 29.7.1938, Hội Truyền bá học Quốc ngữ chính thức được thành lập theo Quyết định số 3622-A của Thống sứ Bắc Kỳ(1). Hội được thành lập với mục đích truyền bá chữ Quốc ngữ để người dân biết đọc biết viết từ đó có thể dễ dàng tiếp cận các điều thường thức cần thiết cho cuộc sống hiện đại. Hội hoạt động theo quy định tại Sắc lệnh ngày 21.2.1933 về các hội phi tôn giáo ở Đông Dương. Hội quán đặt ở số 59 phố Hàng Quạt, Hà Nội.

Theo điều lệ Hội, việc tổ chức các lớp học, các buổi hội thảo không chỉ ở Hà Nội mà còn ở các tỉnh. Thành viên của Hội gồm tất cả các cá nhân mọi quốc tịch, không phân biệt giới tính, không hạn chế số lượng. Thành viên Ban Trị sự Hội năm 1938 gồm : Nguyễn Văn Tố (Hội trưởng) ; Bùi Kỷ và Tôn Thất Bình (Hội phó) ; Phan Thanh (thư ký), Phạm Hữu Chương và Quản Xuân Nam (phó thư ký), Đặng Thai Mai (thủ quỹ), Nguyễn Văn Lô và Võ Nguyên Giáp (phó thủ quỹ) ; các cố vấn Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn và  Lê Thước (2).

Mặc dù bề ngoài là một hội được thành lập một cách hợp pháp, nhưng mọi hoạt động của Hội đều bị Sở Mật thám Bắc Kỳ theo dõi sát sao. Chính quyền Pháp nghi ngờ đây là một hội của những người theo chủ nghĩa Xta-lin không có lợi đối với chính sách của Pháp thời kì đó. Do đó, hầu hết các thành viên của Hội đều nằm trong danh sách theo dõi của mật thám Pháp, đặc biệt là một số chí sĩ cách mạng, nhà yêu nước như Đặng Xuân Khu mang số T.4995.I, Đặng Thai Mai mang số T.4776.I, Chu Văn Tập mang số T7124.I, Võ Nguyên Giáp mang số T6740.I, Ngô Thúc Địch mang số T5220.I…(3). Tuy vậy, Hội vẫn tổ chức rất nhiều hoạt động rầm rộ để tuyên truyền cho việc học chữ Quốc ngữ, đồng thời tuyên truyền tư tưởng cách mạng.

Chương trình hoạt động của Hội tập trung vào các việc sau :

- Mở lớp học vào buổi tối với hình thức giống như các lớp mẫu giáo để tạo điều kiện cho học trò vì hầu hết họ là nhưng người nghèo và phải đi làm thuê. Học trò được cung cấp miễn phí tất cả các đồ dùng cần thiết như sách, vở, quản bút. Việc giảng dạy những khái niệm về chữ Quốc ngữ theo phương pháp hợp lý hơn phương pháp truyền thống, theo sách tập đọc do Hội ấn  hành, giữ vị trí vượt trội trong chương trình vì đó là mục đích chính của Hội và là một loại vườn ươm chương trình giáo dục sơ đẳng.

- Tổ chức các cuộc diễn thuyết để truyền bá tôn chỉ hoạt động của Hội, chủ yếu vào các buổi phát phần thưởng hoặc những hôm tổ chức cổ động.

- Xuất bản sách.

- Lập thư viện bình dân...

Công việc nặng nề nhất của Hội là tổ chức các lớp học. Hội bắt đầu mở lớp vào ngày 9 tháng 7 năm 1938 tại Hội quán Tri trí và trường Thăng Long. Sau khoá học 4 tháng đầu tiên này, khoá thứ 2 tăng lên ở 4 khu trường và đến khoá 5 thì được tổ chức tại 12 khu trường. Khoá 6 (năm 1941) tăng lên ở 14 khu và khoá 7 tăng vọt lên ở 33 khu trường, gồm 68 lớp, tổng số học sinh lên đến hơn ba nghìn mỗi khoá.(4)

Để đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa và mở rộng việc truyền bá chữ Quốc ngữ cho những người kém năng khiếu trong cuộc sống, Hội đã ưu tiên hướng dẫn các em học sinh học thực hành với các môn học không bắt buộc để hiểu về những khoa học thường thức. Thực thế cho thấy Hội đã quan tâm đến điều kiện đặc biệt cho học sinh là người lớn và những kiến thức cần thiết trong nghề nghiệp của họ. Hội đã cố gắng để đáp ứng những yêu cầu đó và chắc chắn đây không phải là lần đầu tiên Hội đạt được thành tích hoàn hảo này. Thực thế Hội còn nhiều việc phải làm nhưng những kết quả đạt chỉ là sự khích lệ các giáo viên tình nguyện. Niềm tin cùng với công việc mà các giáo viên đã thực hiện đã lý giải cho những tiến bộ đã đạt được .(5)

Đến năm 1942, số lượng hội viên đã lên đến 7500, trong đó có khoảng 4000 hội viên đóng hội phí đều. Tuy nhiên, số tiền hội phí thu được không thể đủ chi cho các hoạt động của Hội. Do đó, Hội cần sự ủng hộ của các nhà hảo tâm và tiền thu được từ các buổi chiếu bóng, từ việc phát hành vé số….

Các nhà chỉ đạo Hội Chữ Quốc ngữ và Hội Trí tri hiểu rằng giáo dục đạo đức là một việc lớn của trường sơ học và tiểu học và giáo dục đạo đức không chỉ là việc của các gia đình, mà trường học phải nhanh chóng bù đắp cho các gia đình không có khả năng trong một số trường hợp. Trước hết phải có môn học giáo dục đạo đức một cách gián tiếp bằng trường học gia đình, bằng cuộc sống hàng ngày, bằng kỷ luật nhà trường, bằng các bài tập thể dục và chương trình học cả bậc sơ học và tiểu học.

Trong 7 năm (1938-1945), dưới danh nghĩa là một hội văn hoá giáo dục nhưng thực chất đây là một tổ chức chính trị có sự tham gia của nhiều nhà chính trị, Hội đã đóng góp rất lớn cho Đảng và Cách mạng bằng việc tuyên truyền giáo dục, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh trong toàn thể quần chúng nhân dân lao động.

Đỗ Hoàng Anh - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Tài liệu tham khảo

1.Tuần báo Đông Dương, số 77 ra ngày 19 tháng 2 năm 1942

2.MHN-2865, TTLTQGI

3.MHN-2865, TTLTQGI

4.MHN-2865-02, TTLTQGI

5.Tuần báo Đông Dương, số 77 ra ngày 19 tháng 2 năm 1942