10:55 AM 23/11/2021  |   Lượt xem: 98  | 

Trải qua 75 năm xây dựng và trưởng thành, cùng với những thăng trầm của lịch sử đất nước, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”.

           Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách; Đế quốc, thực dân lại rắp tâm gây chiến nhằm chiếm lại nước ta. Chính trong những ngày sục sôi ấy, một số nhân sĩ, trí thức yêu nước đứng ra vận động và xin phép thành lập Ban Hồng thập tự Việt Nam - tổ chức tiền thân của Hội Chữ thập đỏ ngày nay.

          Ở giai đoạn này, hoạt động nhân đạo được tổ chức tại thành phố Hà Nội bằng sáng kiến của một số y bác sĩ là đào tạo một số nữ y tá Hồng thập tự, mở ra các lớp huấn luyện và thực tập công tác cho các nữ sinh trường trung, tiểu học và một số chị em lao động. Sau đó tiếp tục mở các lớp học  từ 1 tháng, 6 tháng và 1 năm. Cuối năm 1945, tổng số sữ sinh Hồng thập tự  đã lên tới con số 300 người. Ở thành phố Hải Dương rút kinh nghiệm của Hà Nội tiến hành thành lập Ban cứu thương Hồng thập tự.

          Ban Hồng thập tự lúc đầu đặt dưới quyền của Bộ Cứu tế xã hội. Bộ đã trợ cấp một số tiền khá lớn cho Ban Hồng thập tự để làm cơ sở kinh tế hoạt động, ngoài ra Ban còn có sự đóng góp của Hội viên, của nhân dân, Nha y tế Bắc bộ giúp đỡ          
            Ngày 23/11/1946, tại Đại hội đại biểu Hồng thập tự Việt Nam lần thứ nhất diễn ra tại đình làng Thanh Ấm, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội), đây là mốc son đánh dấu sự ra đời của một tổ chức xã hội nhân đạo quần chúng.

            Tiếp đó, để Hội Hồng thập tự Việt Nam có căn cứ hoạt động, Ban Trị sự Trung ương lâm thời, Hội trưởng là Bác sĩ Vũ Đình Tụng đã đề nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ Tôn Đức Thắng cho phép thành lập Hội, kèm theo Bản Điều lệ Hội Hồng thập tự Việt Nam gồm có 7 Phần, 18 Điều quy định rõ về tên gọi, tôn chỉ, mục đích nhiệm vụ và tổ chức của Hội.

Theo đó, Hội Hồng thập tự Việt Nam là một tổ chức quần chúng xã hội, thành viên của phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế . Hội tập hợp mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nam nữ trong các hoạt động nhân đạo.

          Ngày 31/5/1947 Bộ trưởng Bộ Nội vụ Tôn Đức Thắng đã ban hành Nghị định số 77/NV-NgĐ về việc cho phép Hội Hồng thập tự Việt Nam thành lập và hoạt động.

          Hội Hồng thập tự Việt Nam có nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sâu rộng các tầng lớp nhân dân trong toàn quốc việc giữ gìn vệ sinh phòng bệnh, chống dịch để bảo vệ sức khỏe. Tổ chức cứu trợ những người bị bệnh tật, mù lòa ốm đau, bị nạn bão lụt, đói rét hoặc bị các tai nạn lao động xảy ra từ các công trường, nông trường, xí nghiệp. Tổ chức cứu thương giúp đỡ những người bị tai nạn chiến tranh không biệt chính kiến, chủng tộc, tôn giáo, nam, nữ… bất kỳ ở trường hợp nào, hoàn cảnh nào, Hội có trách nhiệm cứu chữa, giúp đỡ, chăm sóc và vận động hội viên quân chủng ủng hộ tiền, của, thuốc men… tùy khả năng của mình để đảm bảo được tính mệnh của họ.

 

Nghị định số 77 NV-NgĐ ngày 31/5/1947 về việc cho phép Hội Hồng thập tự Việt Nam thành lập và hoạt động (bản điều lệ đính kèm) (1).

 

          Ngay sau khi thành lập, hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, hầu hết các hội viên Hồng thập tự đã tích cực tham gia phục vụ tại các mặt trận, tổ chức các trạm cấp cứu, bệnh viện dã chiến, bệnh viện hậu phương.

           Trong thời kỳ chiến tranh Hội giúp đỡ các cơ quan quân y và dân y để trông nom các thương binh, các tù binh, săn sóc sức khỏe của đồng bào tản cư và di cư, cố gắng làm giảm bớt các tai nạn do chiến tranh gây ra, ủy lạo và giúp đỡ các thương binh trong mọi trường hợp cùng gia đình chiến sĩ trận vong;

           Trong thời kỳ hòa bình Hội giúp đỡ các cơ quan y tế chống các nạn dịch tễ, các truyền nhiễm, … truyền bá vệ sinh và tân y học trong đại chúng để nâng cao mức sống, đào luyện các nhân viên Hồng thập tự cần thiết cho hoạt động của Hội. Liên lạc với các Hội Hồng thập tự các nước để tham gia công cuộc Hồng thập tự Quốc tế.

 

Điều lệ Hội Hồng thập tự Việt Nam (kèm theo Nghị định số 77 NV-NgĐ ngày 31/5/1947) (2).

 

          Tiếp đến, ngày 24/1/1966, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ung Văn Khiêm ký Quyết định số 15-Nv về việc đổi tên Hội Hồng thập tự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Hội Chữ thập đỏ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

          Qua nhiều giai đoạn phát triển, văn bản Điều lệ mới nhất được ban hành năm 2018, gồm có 9 chương và 40 điều, trong đó xác định rõ Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là tổ chức xã hội hoạt động nhân đạo; tập hợp mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, không phân biệt thành phần, dân tộc, tôn giáo, giới tính để làm nhân đạo. Mục đích cao cả của Hội là nhân đạo, hòa bình, hữu nghị, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

         

Quyết định số 224/KT/CTN ngày 6/4/1998 của Chủ tịch nước về việc tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (3).

 

Quyết định số 1033/2005/QĐ-CTN ngày 12/9/2005 của Chủ tịch nước về việc tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất (4).

 

           Trải qua 75 năm xây dựng và trưởng thành, cùng với những thăng trầm của lịch sử đất nước, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã và đang phấn đấu vươn lên thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu “Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”. Những cố gắng, nỗ lực của đội ngũ cán bộ, hội viên trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tích cao quý như: Huân chương lao động hạng hai (năm 1971), Huân chương độc lập hạng nhất (năm 1988), Huân chương Hồ Chí Minh (năm 1998), Huân chương Lao động hạng nhất (năm 2005)…

-------------------------

Chú thích:

1. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Công báo nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1947, ký hiệu B3 (5)1947.

2. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 14703, tờ số 5-8.

 3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Chủ Tịch nước, hồ sơ 2123, tờ số 01.

4. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Chủ Tịch nước, hồ sơ 3612, tờ số 11.

Nguyễn Thị Như Quỳnh - Trung tâm Lưu trữ quốc gia III