03:34 PM 18/01/2019  |   Lượt xem: 315  | 

Đà Lạt vốn nổi tiếng là thành phố của huyền thoại và hiện thực, của hoa và cỏ, của những gì thơ mộng và trí tuệ. Đà Lạt cũng là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng của du khách trong và ngoài nước kể từ thời thuộc Pháp cho đến nay.

Lần theo nguồn thư tịch cổ, Đà Lạt khi xưa nằm trong khu vực được gọi chung là Lâm Sơn phần – vùng đất hoang vu và kỳ bí. Nơi đây, chỉ có lác đác vài buôn làng của đồng bào Thượng sinh sống. Mộc bản triều Nguyễn khắc về bản đồ đạo Ninh Thuận vào triều vua Gia Long (năm 1832) có khắc về vùng đất Lâm Sơn phần. Đây có thể là sự định vị đầu tiên của Đà Lạt trên bản đồ Tổ quốc. Ngoài ra, trong khối tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn có nhiều mặt khắc khác ghi lại vùng đất này như trong Mộc bản sách “Đại Nam nhất thống chí” tại quyển 12, mặt khắc 6 ghi chép rõ hơn về vùng đất này: ...“Ở phía Tây, vùng thượng du có sông Dã Dương, sông không sâu mà rộng, dòng sông này có nhiều cá sấu”. Sông Dã Dương được nhắc đến chính là dòng sông Đạ Đờn ngày nay trên vùng Nam Tây Nguyên này, dòng sông bắt nguồn từ đỉnh núi Lang Bian thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đổ về sông Đồng Nai tỉnh Đồng Nai.

Vào nửa đầu thế kỷ 19, Chính quyền thuộc địa Pháp mới thực hiện một vài chuyến thám hiểm đầu tiên, nhưng kết quả cũng dần chìm vào quên lãng. Thời khắc 3h30 phút ngày 21 tháng 6 năm 1893 đã trở thành dấu mốc quan trọng, tiền đề cho sự khai sinh ra thành phố Đà Lạt sau này, đó là thời khắc bác sỹ Yersin đã đặt chân lên Cao nguyên Lang Bian.

 

Chân dung Bác sỹ Yersin – Người khám phá Cao nguyên Langbian

(Nơi bảo quản: Viện Bảo tàng Pasteur  tại Paris)

Trong báo cáo chuyến thám hiểm của mình, bác sỹ Yersin có viết: “Những đường đất uốn lượn làm ta tin rằng, chúng ta đang đi trên mặt biển dậy sóng lớn. Lang Bian nằm ở giữa như một hòn đảo và cảm giác càng xa dần mỗi khi ta tiến lên... Sự mát lành của khí trời làm tôi quên đi mệt nhọc...”

Bị hấp dẫn bởi khí hậu trong lành và nét duyên dáng của miền đất lạ, bác sỹ Yersin đã đề nghị Toàn quyền Đông Dương xây dựng tại đây một trạm điều dưỡng trên núi, nơi các quan chức và kiều dân Pháp nghỉ dưỡng mà không phải về Chính quốc. Ngày 01/11/1899, Toàn quyền Đông Dương đã ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, là tiền đề pháp lý đầu tiên cho việc hình thành đô thị Đà Lạt sau này.

Ngay từ khi mới thành lập, Chính quyền thuộc địa đã tiến hành quy hoạch xây dựng và phát triển thành phố một cách bài bản, khoa học với tham vọng biến nơi đây thành một nước Pháp thu nhỏ giữa miền sơn cước.

Năm 1900, Paul Champoudry được bổ nhiệm làm Thị trưởng đầu tiên của Đà Lạt. Cũng nên lưu ý rằng, ông đã có kinh nghiệm vững chắc trong lĩnh vực quy hoạch đô thị sau nhiều năm làm việc tại Tòa Thị chính Paris. Ông đã khởi xướng xây dựng đồ án đầu tiên về đô thị hóa Đà Lạt. Đó là một đồ án tổng quát quy hoạch Đà Lạt, kèm theo dự án chỉnh trang và phân lô cho thành phố trong tương lai. Theo quy hoạch, khu trung tâm thành phố sẽ nằm ở tả ngạn dòng suối Cam Ly, phần hữu ngạn được dành cho doanh trại quân đội. Các dinh thự nghỉ dưỡng, cơ quan hành chính cũng dự kiến được xây dựng.

Tuy nhiên, do thiếu kinh phí và thiếu sự nhất quán trong chính sách của Chính quyền thuộc địa, đồ án này chỉ được thực thi một phần, vì thế diện mạo thành phố Đà Lạt lúc này chưa có nhiều thay đổi.

Ngày 06/01/1916, toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập tỉnh Lang Bian và sau đó là thành lập thị tứ Đà Lạt theo Dụ của vua Duy Tân ngày 20/4/1916. Theo đó, Đà Lạt trở thành một xứ thuộc Pháp nằm trong xứ bảo hộ Trung Kỳ và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương.

Bản đồ tỉnh Lang Bian năm 1916.

(Nơi bảo quản: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, nhiều người Pháp đã quyết định ở lại Đông Dương, họ quan tâm hơn đến trạm nghỉ mát trên cao này. Toàn quyền Đông Dương nhận thấy cần xây dựng một đồ án quy hoạch Đà Lạt mới.

Năm 1923, đồ án của Hebrard được thông qua, (Hebrard là một kiến trúc sư tài ba, đã từng tham gia quy hoạch thủ đô Athen của Hy Lạp và nhiều thành phố khác ở Châu Âu). Hebrard quy hoạch thành phố Đà Lạt theo 2 quan điểm “quy hoạch thuộc địa” và “quy hoạch thành phố - vườn”. Ông chia thành phố thành 3 khu vực: một cho người Âu, một cho người bản xứ và khu vực còn lại là trung tâm hành chính có chức năng là thủ đô hành chính của Liên bang Đông Dương. Tuy nhiên, bản quy hoạch của Hebrard được đánh giá là quá tham vọng và viển vông. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 đã khiến bản quy hoạch bị thất bại, chỉ một phần việc phân lô và con đường quanh hồ được thực hiện.

Năm 1933, Pineau đã trình bày một đồ án quy hoạch mới đưa Đà Lạt hướng tới một đô thị thực thụ, hòa nhập với môi trường thiên nhiên. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến việc mở rộng các hồ nước và công viên, đồng thời thiết lập các khu vực xây dựng phù hợp với cảnh quan và khí hậu địa phương. Năm 1943, Lagisquet tiếp tục đưa ra kế hoạch mở rộng vùng đô thị, đề xuất cải thiện, phát triển và làm đẹp thành phố với mô hình “thành phố - vườn”.

Những kế hoạch chỉnh trang nối tiếp nhau của các kiến trúc sư, từ kế hoạch của Champoudry năm 1906 cho đến Lagisquet năm 1943, người Pháp luôn tìm cách hợp lý hóa việc chỉnh trang không gian bằng cách chú ý đến cảnh quan thiên nhiên vốn có của thành phố Đà Lạt.

Để chinh phục, phát triển miền đất hoang sơ đầy cuốn hút và bí ẩn này, Chính quyền thực dân Pháp đã mở những con đường huyết mạch đến Đà Lạt. Trong đó, tuyến đường xây dựng lâu nhất và khó khăn nhất phải kể đến là tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt.

Bản thiết kế tuyến đường sắt Phan Rang – Đà Lạt, đoạn BELLEVUE – Dran

(Nơi bảo quản: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Tuyến đường sắt được thiết kế và xây dựng uốn lượn theo các sườn núi với nhiều đoạn đường cua tay áo, nhiều đường hầm, cầu vượt qua những vách núi dựng đứng. Độ dốc của con đường cũng là một vấn đề lớn về địa hình, ý tưởng về đường sắt răng cưa được hình thành. Do sự phức tạp của địa hình, các nhà thiết kế đặt ra phải thiết kế đường sắt răng cưa, bằng cách thêm một đường ray ở chính giữa hai đường ray chính, có răng móc ăn khớp với bánh xe của đầu tàu kéo giúp kéo đoàn tàu khi lên dốc và không bị tuột nhanh khi xuống dốc. Việc mở đường đã được thực hiện bằng sức người dân bản xứ và nô lệ mà Pháp đưa từ châu Phi sang cùng với những dụng cụ hết sức thô sơ. Việc xây dựng con đường cũng đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người.

Qua các đồ án quy hoạch của người Pháp, Đà Lạt luôn được định hình là thành phố dành cho người Âu. Người Pháp đã dành những không gian đắc địa để xây dựng các công trình kiến trúc. Một trong số đó phải kể đến trường Lycée Yersin, nay là trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt. Hiện nay, tại Phông tài liệu Khâm sứ Trung Kỳ hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV còn lưu giữ được những bản vẽ kỹ thuật cùng nhiều tài liệu về quá trình xây dựng trường Lycée Yersin. Công trình này có kiến trúc rất độc đáo, tòa nhà chính nằm uốn mình theo hình vòng cung mềm mại ôm lấy khoảng sân rộng. Điểm nhấn chính là tòa tháp chuông cao 54m, vươn lên giống như một cây bút chì soi mình xuống hồ Xuân Hương thơ mộng.

 Cư dân bản địa của Đà Lạt xưa là một số bộ tộc như Lạch, Chil, Sre... Qua quá trình phát triển, Đà Lạt ngày nay là thành phố của nhiều dân tộc tụ cư, với đa sắc thái văn hóa đan xen hấp dẫn du khách đến khám phá, trải nghiệm.

Tài liệu tham khảo:

1. Mộc bản triều Nguyễn - Di sản tư liệu thế giới

2. Phông tài liệu Khâm sứ  Trung Kỳ

Trần Minh (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)