03:44 PM 29/10/2020  |   Lượt xem: 474  | 

Tại Kỳ họp này, Quốc hội đã có phiên chất vấn đầu tiên thể hiện tính chất công khai, dân chủ rộng rãi, sự trưởng thành của các cơ quan nhà nước, cũng như vai trò, trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.

       Hiện nay, chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp và quan trọng của Quốc hội, là quyền của đại biểu Quốc hội được Hiến pháp quy định. Vậy, hoạt động chất vấn của Quốc hội Việt Nam bắt đầu từ khi nào, nội dung và hình thức, ý nghĩa, tác dụng của chất vấn trong phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội là gì? Bài viết xin được giới thiệu những thông tin về phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội cách đây hơn 74 năm và những giá trị to lớn của hoạt động chất vấn cũng như tầm nhìn xa trông rộng của các bậc tiền bối, đồng thời còn là sự thể hiện vai trò và hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong công cuộc xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân.

       Nếu như Kỳ họp đầu tiên ngày 2/3/1946 của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành công tốt đẹp, hoàn thành những nội dung cơ bản và quyết định những vấn đề quan trọng của Quốc hội, đặt cơ sở, nền móng cho việc xây dựng và từng bước củng cố, hoàn thiện bộ máy Nhà nước Trung ương, thì Kỳ họp thứ hai từ ngày 28/10/1946 – 9/11/1946 của Quốc hội đã để lại dấu ấn đặc biệt. Kỳ họp thứ hai Quốc hội Khóa I đã thông qua bản Hiến pháp dân chủ nhân dân đầu tiên, thông qua Bộ Luật Lao động, Nội quy Quốc hội và thông qua các báo cáo, các Nghị quyết. Đặc biệt, Quốc hội thực hiện phiên chất vấn Chính phủ đầu tiên hết sức sôi nổi, thẳng thắn, nghiêm túc, quyết liệt, thể hiện sự quan tâm của đại biểu, nhân dân đến các vấn đề thuộc về trách nhiệm, quyền hạn của Chính phủ, của quốc gia và thể hiện tinh thần dân chủ trong hoạt động của Quốc hội.

Quang cảnh Kỳ họp thứ hai Quốc hội Khóa I ở Nhà Hát lớn Hà Nội ngày 28/10/1946.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Mục lục ảnh Nguyễn Bá Khoản, số 348 -B9.

       Theo Biên bản Kỳ họp, tại phiên họp chiều ngày 28/10/1946, Quốc hội đã thông qua Nội quy của Quốc hội và quyết nghị về việc chất vấn tại Kỳ họp có hai cách:

       “1/ Thường vấn (bằng khẩu vấn hay bút vấn) là đại biểu được hỏi Chính phủ về những vấn đề nhỏ.

       2/ Đại biểu có quyền chất vấn Chính phủ về những vấn đề quan trọng như các chính sách ngoại giao, nội trị.” (1)

       Thực hiện Nội quy và chương trình Kỳ họp, “dự kiến 9 giờ sáng 31/10/1946, Quốc hội sẽ họp để các đại biểu đưa ra câu hỏi Chính phủ và đến 10 giờ đại biểu Chính phủ sẽ đến trả lời” (2).

Biên bản Kỳ họp thứ hai Quốc hội Khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Thủ đô Hà Nội ngày 28/10 – 9/11/1946.
 

       Thực tế, trong buổi chất vấn đầu tiên, sáng 31/10/1946, các đại biểu đã đưa ra 88 câu hỏi thường vấn chất vấn các thành viên Chính phủ và được các thành viên Chính phủ trả lời. Việc trả lời chất vấn chuyển sang buổi chiều, đến tối và kéo dài đến 12 giờ đêm cùng ngày, đại biểu được nghỉ 2 tiếng.

       Quang cảnh buổi họp trả lời chất vấn chiều 31/10/1946, được mô tả: “công chúng đến dự thính đông gấp bội các phiên họp trước. Hai từng gác Nhà Hát Lớn kín những người ngồi, đứng lô nhô. Người ta đến đông để chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, một cảnh tượng đã do cuộc cách mạng Tháng Tám mang lại: các đại biểu của nhân dân đứng lên chất vấn những công việc mà nhân dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ gánh vác…Trong nghị trường, trên hai hàng ghế đầu, người ta nhận thấy đủ mặt các Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng trong các bộ của Chính phủ” (3).

       Về nội dung chất vấn: đại biểu Quốc hội quan tâm đến nhiều lĩnh vực quốc gia trọng đại khác nhau từ nội chính, ngoại giao, trong đó, về quân sự và quốc phòng nhiều nhất, đến vấn đề tài chính, tư pháp, các việc về nội vụ. Tất cả các câu hỏi và vấn đề chất vấn lần lượt được các thành viên Chính phủ Lâm thời trả lời đại biểu Quốc hội.

       Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay khi bắt đầu trả lời các câu hỏi chất vấn đã đánh giá, nhận xét: “Chính phủ trước hết xin cảm ơn Quốc hội vì sự đó tỏ ra Quốc hội hết sức quan tâm về các vấn đề của quốc gia và sự chất vấn này có thể biểu lộ được rõ ràng cái tinh thần dân chủ thật thà của nước Việt Nam”.

       Trước hết, trả lời các câu hỏi chất vấn về chính sách ngoại giao của Chính phủ và Bản Tạm ước ký kết ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ nói: “trong các báo cáo trước, đã nói nhiều về chính sách ngoại giao. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Còn các nước ấy, tuy chưa công khai, nhưng cũng rất có thiện cảm với ta.

       Còn về ngoại giao với Pháp, thì từ khi ký Hiệp định 6/3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Phông-ten-nơ-blô, đến Tạm ước 14/9 cũng đã báo cáo nhiều rồi. Chính phủ quyết tâm giữ nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời cộng tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, Người Pháp cũng phải cộng tác lại với chúng ta trên nguyên tắc bình đẳng.

       Tạm ước này có ảnh hưởng tới các hiệp ước ký sau không.

       - Trong xã hội loài người, cái gì mà chẳng có ảnh hưởng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều chỉnh sau đây không bị ràng buộc được. Bản Tạm ước này, tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ chỉ đẩy cho những điều định sau chóng tới kết quả một cách dễ dàng.”

       Tiếp đến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc bấy giờ là Chủ tịch Quân ủy Hội trả lời các câu hỏi liên quan đến quân sự như về mối quan hệ giữa Quân ủy Hội và Quốc phòng, tình hình sinh hoạt của bộ đội, việc tuyên dương công trạng; những cuộc xung đột ở các nơi như Kiến An, Lào-kay, Lạng Sơn, Phú Thọ; việc thực dân Pháp lập các xứ biệt lập như xứ Nùng, xứ Thái; thái độ của quân Pháp ở Nam Bộ sau khi ký Tạm ước 14/9…

       Thay mặt Bộ Nội vụ, cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng lên diễn đàn nói: "Nước nhà đã vượt qua nhiều khó khăn, đó là công của Hồ Chủ tịch. Nhưng trong nước có những công việc không hay đó là lỗi tại tôi!". Ông Cù Huy Cận trả lời các câu hỏi về hành chính trong Nam Bộ, việc hợp tác xã... về việc bắt các đại biểu Quốc hội của Việt Quốc, Cụ Huỳnh trả lời “trước khi bắt đã hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội và đã được thỏa thuận, tất cả những người này đã căn vào tội trực tiếp hay gián tiếp dự vào các cuộc bắt cóc hay tống tiền như vụ Ôn Như Hầu” (4).

       Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hoè trả lời các câu chất vấn về tư pháp, về tài sản của người Pháp theo Tạm ước 14/9 và về tội hối lộ. Bộ trưởng khẳng định: “nước Việt Nam là một nước tự chủ, thì người ngoại quốc sống ở Việt Nam phải theo pháp luật Việt Nam. Việc hối lộ thì hiện nay Chính phủ đang bài trừ, chẳng hạn trước đây tội hối lộ thuộc tiểu hình thì nay Chính phủ đã đề nghị đổi thành đại hình” (5).

       Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến trả lời các câu hỏi liên quan đến đồng bạc Việt Nam, ngân sách, thuế khóa, lương công chức...

       Ông Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Kinh tế trả lời các câu hỏi về cách tổ chức của Bộ và những việc Bộ đã làm.

       Các ông Bộ trưởng các Bộ Giao thông Công chính, Bộ Y tế và Xã hội, Bộ Giáo dục lần lượt trả lời các câu hỏi chất vấn liên quan đến các vấn đề do các Bộ đó phụ trách.

       Đến hơn 10 giờ đêm ngày 31/10/1946, kết thúc phần trả lời những câu hỏi thường vấn, toàn bộ 88 câu hỏi đặt ra vào buổi sáng về tất cả các vấn đề đã được các vị Bộ trưởng, thành viên Chính phủ trả lời.

       Chuyển sang phần chất vấn những vấn đề lớn, quan trọng, các chính sách mà Chính phủ đã thực hiện, Chủ tịch Đoàn mời các đại biểu của các nhóm đã ghi tên lên diễn đàn trực tiếp chất vấn Chính phủ. Theo nội quy, mỗi đại biểu được quyền nói trong 20 phút. Lúc này, “cả phòng yên lặng, người ta chỉ thấy rằng giờ quan trọng của phiên họp thật lúc đó mới bắt đầu.

       Từ trên diễn đàn, mà ánh sáng một ngọn đèn có chụp xanh thu hắt xuống mặt bàn đứng, tiếng nói của mỗi đoàn thể trong Quốc hội sẽ vang lên buộc Chính phủ phải trả lời về những điểm chính sách nội trị và ngoại giao mà Chính phủ thi hành từ trước tới sau”. (6)

       Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ bước lên diễn đàn trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội các nhóm, Người đã nhận xét, đánh giá khái quát về nội dung các bài chất vấn của các đại biểu Quốc hội Trần Đình Tri, Lê Huy Vân, Khuất Duy Tiến, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Sơn Hà, Trần Huy Liệu, Huỳnh Văn Tiểng, Xuân Thuỷ và Nguyễn Văn Tạo: “Chính phủ hiện thời thành lập mới hơn một năm, hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà, Quốc hội đã đặt những câu hỏi thật già dặn, thắc mắc khó trả lời, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mạng nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy. Ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập.” (7)

       Với lối nói đặc biệt, ôn tồn, ngôn từ giản dị, “dùng những thí dụ tầm thường để diễn sự thực rất sâu xa và lý luận lúc nào cũng chặt chẽ, đanh thép” (8), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt trả lời các câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội, “Người không bỏ qua điểm nào mà không trả lời”.

       Trả lời câu hỏi chất vấn, vì sao Chính phủ đã đưa đề nghị thay đổi Quốc kỳ để xem xét, Người khẳng định một cách rành mạch: “Chính phủ không bao giờ dám thay đổi Quốc kỳ. Chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải đệ qua Ban Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á tới đâu cũng đuợc chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà thay đổi nó.”

       Về câu hỏi chất vấn của đại biểu Trương Đình Tri liên quan đến chính sách đại đoàn kết của Chính phủ, dựa trên tinh thần đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời những câu hỏi này một cách hết sức tế nhị và khoan dung. Về tin đồn ông Nguyễn Hải Thần tự xưng là Tổng tư lệnh hải, lục, không quân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Nếu Việt Nam không có hải, lục, không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc mà làm Tổng tư lệnh, và nếu Việt Nam không có hải, lục, không quân mà ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải, lục, không quân cho Việt Nam thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh”. (9)

       Về việc “Chính phủ liêm khiết”, Người nói: “thì Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các ủy ban làng đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ - đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết.” (10)

       Về chất vấn của đại biểu Trần Huy Liệu cho rằng: “Tạm ước 14/9 là bất bình đẳng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy mỗi bên nhân nhượng một ít, ta bảo đảm cho Pháp những quyền lợi kinh tế và văn hoá ở đây thì Pháp cũng phải bảo đảm thi hành tự do dân chủ ở Nam Bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp không thành thật thi hành Tạm ước thì ta nói vơ đũa cả nắm, Pháp cũng có người tốt có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng nhân dân Pháp bây giờ đại đa số tán thành ta độc lập và thống nhất lãnh thổ”. (11)

       Kết thúc phiên chất vấn, các thành viên Chính phủ trả lời tất cả các vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm, đại biểu Quốc hội và dân chúng được giải đáp tất cả những thắc mắc về tất cả các lĩnh vực thuộc quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ, giải quyết thỏa đáng những nguyện vọng của nhân dân.

       Phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội đã để lại ấn tượng sâu sắc, thành phần của phiên chất vấn không chỉ có đại biểu Quốc hội, thành viên Chính phủ Lâm thời mà còn cả đông đảo công chúng tham gia dự thính, chứng tỏ dân chúng rất quan tâm đến hoạt động của Quốc hội, của đất nước, của Chính phủ, trên hết, thành phần này còn thể hiện tính minh bạch, khách quan trong cách thức làm việc của Chính phủ, về sự gần dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Quốc hội, nhân dân không chỉ giao nhiệm vụ cho cơ quan Chính phủ mà còn trực tiếp chất vấn, kiểm tra, giám sát Chính phủ về những công việc thuộc trọng trách của Chính phủ. Đây thực sự là một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội ngay từ đầu đã thể hiện tính chất công khai, dân chủ rộng rãi, sự trưởng thành của các cơ quan nhà nước, cũng như vai trò, trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, đồng thời cũng thể hiện cho cử tri cả nước thấy rõ vai trò sứ mệnh đại diện của mình thông qua việc tổ chức phiên chất vấn đầu tiên trong lịch sử.

       Gần 75 năm trôi qua, đọc lại Biên bản Kỳ họp thứ hai Quốc hội Khóa I về phiên chất vấn đầu tiên của Quốc hội, điểm lại những giá trị hết sức sâu sắc cả về mặt lịch sử, khoa học đã cho thấy tính dân chủ sâu sắc trong buổi đầu hoạt động của Quốc hội Việt Nam, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của các bậc tiền bối.

       Hiện nay, trong những khóa họp của Quốc hội, hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với các thành viên Chính phủ, các vị lãnh đạo các Bộ, giữa đại biểu Quốc hội với các thành viên Chính phủ đang được thực hiện là sự tiếp nối tinh thần hoạt động của Quốc hội hơn 70 năm trước. Hoạt động chất vấn luôn nhận được sự quan tâm của nhân dân, được các đại biểu Quốc hội và các cơ quan chuẩn bị nghiêm túc, công phu và thể hiện sự dân chủ, khách quan của Quốc hội. Đây thực sự là hoạt động cần thiết trong việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ và cần tiếp tục duy trì, phát huy hơn nữa nhằm minh bạch hoạt động của Chính phủ, tăng cường mối liên hệ giữa Chính phủ, các cơ quan nhà nước với người dân, xây dựng Quốc hội của dân, là cơ quan đại diện của nhân dân.

       Chú thích:

       1. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 11, 12.
       2. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 11.
       3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 11, 12.
       4. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 16.
       5. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 16.
       6. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 21.
       7. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 25.
       8. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 26.
       9. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 26.
       10.Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 26.
       11.Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, hồ sơ 04, tờ 26.

Lê Thị Lý (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)