09:44 AM 15/06/2021  |   Lượt xem: 761  | 

Nhà tù Côn Đảo - địa ngục trần gian là nơi giam giữ và đọa đày các chí sĩ yêu nước, chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ. Ngày 12/12/1952, cuộc vượt ngục bi hùng của 202 tù nhân trên đảo tuy thất bại nhưng đã tạo được tiếng vang rất lớn, được ví như cuộc khởi nghĩa tại một địa bàn vô cùng đặc biệt. Những chuẩn bị và diễn biến của cuộc vượt ngục lịch sử đó được tìm thấy qua những trang tài liệu lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp (1).

     Năm 1953, Tòa án binh Pháp tại Sài Gòn tiến hành phiên tòa xét xử 121 tù nhân tham gia cuộc vượt ngục không may bị quân Pháp bắt lại. Hộp hồ sơ tài liệu lưu trữ về phiên tòa bao gồm biên bản thấm vấn những tù nhân bị bắt lại, đánh giá hiện trạng nơi diễn ra sự kiện, danh sách các tù nhân tham gia vượt ngục bị mất tích và đặc biệt làm bản báo cáo của đại úy Bruez- Phân khu trưởng Phân khu Hiến binh Sài Gòn.

     Theo Bruez, cuộc vượt ngục của 202 tù nhân ở Côn Đảo ngày 12/12/1952 là cuộc vượt ngục với quy mô lớn chưa từng có, được chuẩn bị kỹ lưỡng trong 4 tháng dưới sự chỉ huy của tù nhân chính trị “cực kỳ nguy hiểm” là Hoang Van Gian (ông bị cho là chết trên biển khi vượt ngục) (2).

 Báo cáo ngày 20/12/1952 của Đại úy Bruez về diễn biễn cuộc vượt ngục, hồ sơ 10 H 6041.

     Những chuẩn bị cho cuộc vượt ngục lịch sử

     Nhóm thứ nhất gồm 100 tù nhân do 18 lính Phi quản lý dưới sự chỉ huy của do một thượng sĩ chỉ huy, trú trong khu nhà trên công trường ở Bãi Nhát (3) ở vùng Tây Nam, nghỉ và ngủ trong những lán tranh tạm, dài 30 m và rộng 7 m, bao quanh là hàng thép gai, ở hai đầu là hai lán của lính gác dựng bên ngoài hàng rào thép gai. Ngoài ra còn có 2 nhà tranh dành cho tên thượng sĩ Bordes Soules và cai Dimbele, bếp và nhà dành cho 18 lính Phi.  Nhóm thứ hai gồm 102 tù nhân lao dịch tại Mũi Chim Ưng (4) dưới sự canh giữ của 2 cai ngục và 6 lính canh giữ.

     Tháng 8/1952, Hoang Van Gian cùng các đồng chí của ông là Nguyen Van Mai, Nguyen Van Bon, Nguyen Van Bang, Ta Van The và Nguyễn Viết Kiểm (tức Phan Du) quyết định chuẩn bị kế hoạch và tổ chức cuộc vượt ngục gồm 20 trong số 100 tù nhân bị điều đi đường ở Bãi Nhát. Lời khai của một số tù nhân tham gia vượt ngục được ghi trong báo cáo thẩm cung của Hiến binh Pháp cho biết, sở dĩ Hoang Van Gian chọn thời điểm vượt ngục khi gió mùa Đông Bắc bắt đầu là vì đó là thời điểm các tù nhân phải quay về Banh số 3 (Bagne III) ở trung tâm Côn Đảo và hải lưu thuận lợi cho việc thuyền vào đất liền.

Lán tranh dành cho các tù nhân lao động trên Bãi Nhát, hồ sơ 10 H 6041, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

     Các hố dùng để giấu thuyền được đào ngay trong lán tranh của các tù nhân, phần đất đào lên được rải khắp lán cùng với rơm, bí mật được chuyển đi trong mỗi lần lao dịch. Ngày 16/09/1952, hố đã đào xong sẵn sàng chờ giấu vật liệu đóng thuyền. 2 chiếc thuyền đầu tiên dài 5 và 7 m với khung làm từ tre và mây bí mật được lấy về từ trong rừng, vôi, dầu và sợi đay làm thành hỗn hợp đắp thân thuyền sau đó dùng nhựa đường trát kín thân thuyền theo cách đóng thuyền của người xứ Bắc Kỳ.

     Nhưng một diễn biến bất ngờ xảy đến khiến kế hoạch thay đổi. Tên Giám đốc nhà tù Côn Đảo- tiểu đoàn trưởng Jarty lệnh cho 100 tù nhân dự kiến phải trở tại Banh III sẽ tiếp tục ở lại cho tới khi hoàn thành con đường. Do vậy, Hoang Van Gian đã thay đổi kế hoạch quyết định vượt ngục ban đầu từ 20 người lên thành 100 người sau khi toàn bộ nhóm tù của ông đồng lòng nhất trí và tán thành kế hoạch này. Hoang Van Gian nhận định, hai thuyền không đủ chở 100 người vượt biển về đất liền, phải đóng thêm thuyền thứ 3 và  lần này dùng vải bít kín thân thuyền. Đầu tháng 11/1952, khung thuyền thứ ba đã đóng xong và được giấu kín dưới hố, nhưng họ lại gặp phải khó khăn, đó là không có nhựa đường để chống thấm thân thuyền. Hoang Van Gian bí mật kết nối với Ngo Van Chung đề nghị được giúp đỡ (Ngo Van Chung, Pham Nhu Van và Pham Tri Vien là ban lãnh đạo nhóm tù nhân làm việc ở Mũi Chim Ưng). Ngo Van Chung đồng ý giúp đỡ, đồng thời đề nghị nhóm của ông cùng được tham gia kế hoạch vượt ngục và được chấp nhận. 2 chiếc thuyền được đóng thêm, mọi liên lạc giữa 2 nhóm được thông qua những lần các tù nhân tiếp tế thực phẩm tươi phục vụ cai tù và lính gác, mọi chuẩn bị cũng như điều kiện tiến hành được tỉ mỉ vạch ra. Ngày 10/12/1952, một cuộc họp được tổ chức thông báo về cách thức vượt ngục. Vị trí gác của từng tên lính, cai ngục và giám thị được nêu cụ thể cẩn thận, chúng sẽ bị tước vũ khí và không bị đối xử thậm tệ, sau đó sẽ bị bịt mồm, trói quặt tay vào gốc cây, các tù nhân vượt ngục cấm không được có các hành động cướp phá tài sản. Từng tù nhân tham gia vượt ngục được giao nhiệm vụ cụ thể. Do 2 công trường ở khá cách xa nhau nên 2 nhóm phải phối họp hành động đồng thời, ám hiệu sẽ do Ngo Van Chung phụ trách phát lệnh như thời gian đã định.

Ảnh chụp hố giấu thuyền trong lán tù ở Bãi Nhát, hồ sơ 10 H 6041, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

     Diễn biến cuộc vượt ngục

     9h sáng ngày 12/12/1952, 2 tù nhân thuộc nhóm tù ở Mũi Chim Ưng dưới sự áp tải của 1 cai ngục người Phi chở lương thực tiếp tế cho quân đội ở Bãi Nhát. Họ thông báo cho Hoang Van Gian    về việc không có bất kỳ tàu tuần tra nào của quân Pháp quanh Côn Đảo, gió thổi khá thuận đẩy thuyền về hướng đất liền nên đây là thời điểm thuận lợi thực hiện kế hoạch.

     Ám hiệu mệnh lệnh là cây sào cắm trong khu vực công trường, ở khúc ngoặt hướng xuống khu lán giam. Một tù nhân bếp được cử đi kiểm tra ám hiệu, chừng 10h, Hoang Van Gian quyết định nổi dậy tấn công và đến 10h30, lệnh vượt ngục được truyền tới toàn bộ tù nhân. Khi đó, kíp số 1 gồm 10 tù nhân do 2 lính gác giám sát được giao sửa chữa cây cầu ở km số 8, kíp số 2 gồm 20 tù nhân do 3 lính gác làm công việc sửa đường ở km số 8, kíp số 3 gồm 28 tù nhân do 2 lính gác sửa đường trước lán tranh dùng làm bếp và nhà ở cho lính, kíp số 4 gồm 4 tù nhân được giao sử dụng cụ làm đường, kíp số 5 gồm 4 tù nhân sửa lán tranh của tên thượng sĩ nhất và 8 đầu bếp. Có 8 lính có vũ khí canh giữ 100 tù nhân, 10 lính khác không có vũ khí hoặc đang nghỉ giải lao. Gần cuối buổi sáng ngày 12/12/1952, nhóm tù nhân làm việc ở Mũi Chim Ưng trở về lán giam cùng dụng cụ đào đất, tên thượng sĩ nhất đang đi kiểm tra công trường ở km số 8. 11h, sau tiếng còi của tên cai ngục, các tù nhân trở về khu điểm danh như thường lệ và họ kiên nhẫn chờ tín hiệu phát lệnh vượt ngục. Khi kíp tù làm đường ở km số 8 vượt qua cây cầu cách khu lán tù chừng 100 m và khi các toán tù trở về gặp toán tù làm bếp, Nguyễn Viết Kiểm vừa dùng khăn quấn đầu vẫy vừa hô “Xung phong”, lệnh tấn công  nổi dậy chính thức được phát đi, các tù nhân nổi dậy, vô hiệu hóa cai ngục và 18 lính sau đó số này bị dẫn giải vào khu bụi rậm cách khu lán tù 800 m, bị trói quặt tay vào gốc cây dưới sự canh giữ của 10 tù nhân do Nguyen Van Mai chỉ huy, có tiếng súng nổ, một lính Phi và một tù nhân bị chết, một số lính Phi khác bị thương. Các tù nhân làm chủ hoàn toàn hai khu vực công trường và chiếm được toàn bộ vũ khí của các cai ngục như theo kế hoạch. Khoảng 15h, chiếc thuyền đầu tiên được chuyển xuống bến bằng xe tải, lần lượt là các thuyền còn lại chở các tù nhân lên thuyền trốn ra biển.

     Quân Pháp ráo riết truy lùng

     Ngay khi biết tin diễn ra cuộc vượt ngục, tên tiểu đoàn trưởng-giám đốc nhà tù Côn Đảo Jarty điều kỵ binh Hiến binh và các cai ngục đi tuần, truy đuổi dọc bờ biển cũng như các đảo ở Tây Bắc đảo Côn Lôn (Grande Condore). 18h ngày 12/12, tên thượng sĩ Bordes Soules-chỉ huy trại Bãi Nhát cùng cai ngục Albertini và 7 lính Phi trốn thoát trở về được tới khu trung tâm, báo cáo lại trên đường tháo chạy, chúng phát hiện một ngôi mộ chôn một tù nhân có thể bị chết trong khi vượt ngục. Hải quân Pháp ngay sau khi nhận được điện khẩn của Jarty lập tức cử một đơn vị biệt kích sục sạo khắp Hòn Bà, đồng thời xua tàu hộ tống do Thiếu tá Duboc chỉ huy tuần tra khu vực biển quanh toàn bộ các đảo của Côn Đảo.

Phần đầu danh sách các tù nhân ở Bãi Nhát của vũng Tây Nam tham gia vượt ngục bị mất tích.

     Đến 18h, Duboc báo cáo đã bắt lại được 8 tù nhân bỏ trốn, họ bị dẫn trở lại Banh III ngay ngày hôm sau. 18h30, kỵ binh Hiến binh và nhiều cai ngục được điều đến tuần tra ngoài khơi khu vực bờ biển Tây Bắc của các đảo và đến 19h, chúng phát hiện ở Hòn Bà (Petit Condore) có các thuyền buồm cách đảo chừng 8 dặm đang bơi theo hướng Tây Bắc tiến vào đất liền. Do trời bắt đầu tối nên quân Pháp không thể tiếp tục truy đuổi và bắt đầu trở lại lúc 4h sáng ngày 13/12. Nhiều tư trang và vật dụng mà quân Pháp cho là của các tù nhân vượt ngục bị sóng đánh dạt vào bờ các đảo. Cũng trong buổi sáng hôm đó, tên thượng sĩ nhất Erre chỉ huy toán lính đến thị sát hiện trường 2 công trường, đồn điền dừa ở vũng Tây Nam cũng như các vị trí mà các tù nhân đã đi qua.

    Trong báo cáo của mình, tên Đại úy Bruez cũng ghi cụ thể số lượng tù nhân trên từng thuyền. Thuyền thứ nhất gồm 30 người, thuyền thứ  2: 25 người, thuyền thứ 3: 66 người, thuyền thứ 4: 29 người và thuyền thứ 5: 52 người. Theo hắn, số lượng người quá tải so với khả năng của những chiếc thuyền được đóng khá sơ sài, cộng với việc quân Pháp lùng sục ráo riết cả trên cạn lẫn ngoài khơi là nguyên nhân thất bại của cuộc vượt ngục quy mô lớn này.

Phần đầu danh sách các tù nhân ở Mũi Chim Ưng tham gia vượt ngục bị mất tích.

     Sau khi cách bờ đảo chừng 20km, thuyền thứ nhất đã buộc phải tìm cách cập vào các đảo gần đó nhưng không thành công nên bị chìm, chỉ 6 tù nhân sống sót sau đó bị quân Pháp bắt lại. Thuyền thứ 2 cũng chung số phận với thuyền thứ nhất, chỉ có 4 trong tổng số 25 người sống sót. Do được đóng tốt hơn nên thuyền thứ 3 lênh đênh trên biển trong suốt 2 ngày, sau đó bị máy bay Pháp phát hiện và bị một tàu hải quân Pháp bắt lại toàn bộ. Toàn bộ tù nhân trên thuyền thứ 4 bị tàu tuần tra của Hải quân Pháp phát hiện và bắt lại. Thuyền thứ 5 bị nước chảy vào khá nhanh nên buộc phải quay vào bờ để sửa chữa, sau đó tiếp tục trốn ra biển 37 tù nhân, 15 người khác ở lại trốn trong các bụi rậm trên đảo và sau đó bị bắt lại do kiệt sức. Quân Pháp không tìm thấy dấu vết của chiếc thuyền này mà chỉ tìm thấy các mảnh vỡ được cho là của thuyền dạt vào bờ và có thể chiếc thuyền này đã bị đắm.

     Đến ngày 11/01/1953, 122 trong số 202 tù nhân tham gia cuộc vượt ngục bi hùng lịch sử bị bắt trở lại cùng với số ít vũ khí chiếm được, trong số đó không có hai chỉ huy Hoang Van Gian và Ngo Van Chung. Tổng cộng có 6 lính canh của Pháp bị giết và thương, các tù nhân chiếm được 20 khẩu súng model 36, 4 súng tiểu liên “MAT”, 2 súng ngắn tự động cùng nhiều đạn các loại.

     Ngày 02/09/1953, 122 tù nhân trên bị dẫn giải lên tầu Vimy đến nhà tù Chí Hòa xét xử, dưới sự canh giữ của 20 lính được trang bị vũ khí do Căn cứ quân sự Sài Gòn điều đến./.

----------------

Chú thích:

1. Hồ sơ 10 H 6041, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

2. Do không tra cứu chuyển sang tiếng Việt đầy đủ, đa số tên của các tù nhân tham gia cuộc vượt ngục được giữ theo tài liệu lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

3.Tài liệu lưu trữ Pháp ghi là Baie Nhut.

4.  Mũi Chim Ưng (Bec d’Aigle) hay còn gọi là Mũi Cá Mập.                                                                       

Ngọc Nhàn - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I