04:19 PM 20/05/2019  |   Lượt xem: 304  | 

Tài liệu Châu bản về lịch sử hình thành, các lần trùng tu phát triển của chùa Thiên Mụ đã chứng minh vai trò, sự quan tâm của các vua triều Nguyễn với Ngôi cổ tự đẹp nhất xứ Huế.

       Tọa lạc trên đồi Hà Khê, bên dòng sông Hương thơ mộng, trữ tình thuộc địa phận phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, chùa Thiên Mụ (chùa Linh Mụ) là một trong những ngôi cổ tự đẹp nhất đất Cố đô.

       Theo Đại Nam thực lục, chùa được Chúa Nguyễn Hoàng cho khởi công xây dựng vào năm Tân Sửu (1601) (1). Cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 là thời kỳ hoàng kim của Phật giáo Đàng Trong, nhờ đó chùa Thiên Mụ được các chúa Nguyễn quan tâm. Các Chúa tiếp nối cho trùng tu, xây dựng ngôi chùa ngày càng trở nên nguy nga, tráng lệ. Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1710, Chúa Quốc - Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho đúc chiếc chuông Đại Hồng Chung nặng 3285 cân và có khắc một bài minh trên đó (2). Mùa hạ, tháng 6 năm Giáp Ngọ (1714), ông cho đại trùng tu chùa bắt đầu từ cổng chùa đến điện Thiên vương, điện Ngọc hoàng, điện Đại hùng, nhà Thuyết pháp, lầu Tàng kinh, hai bên thì lầu chuông, lầu trống, điện Thập vương, nhà Vân thủy…và các phòng tăng, nhà thiền có tới vài mươi sở đều rực rỡ chói lọi, làm tới một năm mới xong. Nhiều công trình kiến trúc trên còn tồn tại đến ngày nay (3).

       Với vẻ đẹp tự nhiên và quy mô mở rộng, kể từ thời chúa Nguyễn, chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất ở Đàng Trong. Trải qua thời gian, chùa đã được tôn tạo, tái phục hồi nhiều lần trong suốt triều đại của các vua nhà Nguyễn. Năm 1815, vua Gia Long đã ban sắc sửa chùa, đúc tượng phật. Vua đến xem, nhân bảo Trịnh Hoài Đức rằng: “Chùa này đất có linh khí, từ khi hoàng tổ ta là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, năm thứ 23 Giáp Ngọ (1714) tu tạo đại quy mô đến nay đã được 101 năm rồi, nay nhân chùa cũ mà sửa lại để truyền thắng tích”(4). Năm 1826, vua Minh Mệnh cho dựng bức bình phong ở chùa Thiên Mụ. Trong Châu bản triều Nguyễn, bản phụng chỉ ngày 29 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) có ghi: Lương Tiến Tường, Hoàng Văn Diễn vâng chỉ truyền xuất tiền kho là 13 quan và 450 tàu lá dừa làm bức bình phong cho chùa Thiên Mụ (5).

       

Bản phụng chỉ của Lương Tiến Tường, Hoàng Văn Diễn ngày 29 tháng 9 năm Minh Mệnh 7 (1926)
về việc xuất tiền, lá dừa làm bình phong trúc cho Chùa Thiên Mụ.

 Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Triều Nguyễn.

       Đến năm 1844, vua Thiệu Trị cho dựng tháp Từ Nhân (về sau đổi tên là tháp Phúc Duyên), gồm bảy tầng, cao 21m, bằng gạch, mỗi tầng thờ một pho tượng Phật. Đây là biểu tượng gắn liền với hình ảnh chùa Thiên Mụ. Trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi chép về việc xây ngôi tháp này như sau: Năm Giáp Thìn, Thiệu Trị thứ tư, tháng 3, bắt đầu xây tháp bảy tầng chùa Thiên Mụ gọi là  tháp Từ Nhân, trước tháp xây đình Hương Nguyện, giao cho Thống Chế doanh Hổ Uy là Hoàng Văn Hậu đôn đốc mọi việc. Năm Ất Tỵ, Thiệu Trị thứ 5 (1845), mùa thu, tháng 7, tháp Từ Nhân làm xong, nhà vua đổi tên là “Phúc Duyên bảo tháp”(6).

        Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), thiên tai, bão lụt làm các tòa điện trong chùa Thiên Mụ bị hư hỏng. Bản tấu của Bộ Công ngày 15 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847) cho biết: Ngày tháng 9 năm ngoái do bão lụt nên ngói lợp các toà đình Hương Nguyện, điện Đại Hùng, điện Di Lặc, điện Quan Âm, lầu Hộ Pháp trong chùa Thiên Mụ bị dột và các vật hạng bị gãy hỏng xin do bộ thần (Bộ Công) tiến hành kiểm tra lại rõ ràng để tu bổ cải tạo. Bộ Công đã tiến hành kiểm tra, phát vật liệu công và cấp thợ. Lại do quan Bộ Binh điều phái 2 viên Suất đội và 100 binh lính, lĩnh các vật liệu đem đến chùa (Thiên Mụ), căn cứ từng khoản mục để tu bổ sửa chữa (7).

Bản tấu của Bộ Công ngày 15 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847) về việc phái suất binh thợ, chi vật liệu tu sửa các tòa điện ở chùa Thiên Mụ bị hư hỏng do gió bão.
Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia  I, Châu bản triều Nguyễn.

 

       Trải qua thời gian cùng với sự khắc nghiệt của thiên nhiên làm chùa ngày một xuống cấp. Năm Duy Tân thứ 1 (1907), các toà sở và các hạng mục trong chùa Thiên Mụ tiếp tục hư hỏng, đổ vỡ nhiều. Bộ Công phát giá đấu thầu nhân công, vật liệu tu bổ lại chùa với số tiền là 2982 đồng 5 hào 5 xu và Hồ Xuân Tiên thắng thầu với giá 2388 đồng (8). Năm Duy Tân thứ 2 (1908), bảo tháp Phúc Duyên của chùa bị sét đánh làm hư hỏng nhiều chỗ. Bộ Công đã cho họp bàn kiểm tra rõ ràng và chiếu theo các hạng mục bị thiệt hại để dự trù tu bổ. Chi thuê công thợ, mua vật liệu tổng cộng hết 132 đồng, 3 hào, 1 xu. Số tiền tu bổ trên xin trích trong ngân sách công tác năm tại Kinh để làm (9). Năm Bảo Đại thứ 5 (1930), chùa tiếp tục được đầu tư tu bổ các hạng mục như điện Quan Âm, cổng tam quan, bảo tháp Phúc Duyên và đình Hương Nguyện với tổng số tiền là 1500 đồng (10).

       Nhờ qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ trong suốt triều đại các vua nhà Nguyễn cũng như sau này đã góp phần gìn giữ các công trình kiến trúc như tháp Phúc Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm… cùng bia đá, chuông đồng và lưu giữ được nhiều cổ vật quý giá không chỉ về mặt lịch sử mà còn cả về nghệ thuật.

Chú thích tài liệu tham khảo:

  1. Đại Nam thực lục, quyển I, Tiền biên.
  2. Đại Nam thực lục, quyển VIII, Tiền biên
  3. Đại Nam thực lục, quyển VIII, Tiền biên.
  4. Đại Nam thực lục, đệ nhất kỷ, quyển L.
  5. TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 19, tờ 231.
  6. Đại Nam Thực Lục, Đệ tam kỷ, quyển XXXVII.
  7. TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 41, tờ 14.
  8. TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập 3, tờ 157.
  9. TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập 12, tờ 93.
  10. (10)TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập 4, tờ 18.

Lê Thông (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.)