02:19 PM 11/07/2019  |   Lượt xem: 90  | 

Danh sách Toàn quyền Đông Dương từ 1887 đến năm 1945, là một nguồn sử liệu rất đáng chú ý đối với các độc giả quan tâm nghiên cứu.

      Chế độ Toàn quyền (Gouverneur Général) được thiết lập cùng với việc thiết lập Liên bang Đông Dương (1). Theo Sắc lệnh ngày 21 tháng 4 năm 1891, Toàn quyền Liên bang Đông Dương (hay Toàn quyền Đông Dương) “Là người được ủy nhiệm thi hành quyền lực của nước Cộng hòa Pháp tại Đông Dương. Toàn quyền là người duy nhất có quyền trao đổi với Chính phủ; liên hệ với các Bộ thông qua Bộ trưởng Bộ thuộc địa và với các Bộ trưởng tại Pháp, các tổng lãnh sự, lãnh sự, phó lãnh sự Pháp tại khu vực Viễn Đông. Toàn quyền không được tiến hành bất kỳ cuộc đàm phán ngoại giao nào khi không được Chính phủ cho phép”. Như vậy, Toàn quyền là chức quan cao cấp nhất của Pháp tại Liên bang Đông Dương, có quyền cao nhất về hành chính và quân sự, trợ giúp cho Toàn quyền là Hội đồng Tối cao (Conseil Supérieur) và Đại hội đồng Kinh tế Đông Dương (Grand Conseil des Intérêts économiques et Financiers de I’Indochine), để thuận tiện cho việc cai trị Toàn quyền chia liên bang Đông Dương làm các xứ theo các thể chế chính trị khác nhau, đứng đầu mỗi xứ là một viên quan cai trị: Thống sứ (Bắc Kỳ); Khâm sứ (Trung Kỳ); Thống đốc (Nam Kỳ). Chế độ này bãi bỏ theo Sắc lệnh số 41 ký ngày 3/10/1945 của Chủ tịch lâm thời Chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam.

     Viên Toàn quyền Đông Dương đầu tiên là Jean Antoine Ernest Constans (1887–1888) và người cuối cùng là Jean Decoux (1940–1945). Có hơn 40 viên quan người Pháp được bổ nhiệm vào chức vụ Toàn quyền Đông Dương. Hầu hết các Toàn quyền đều thực hiện chính sách nhằm thu lợi nhuận tuyệt đối cho Chính quốc, nhưng cũng có những viên Toàn quyền trong quá trình cai trị, các chính sách khai thác để lại nhiều thay đổi tích cực cho thuộc địa mà đến nay những thành tựu đó vẫn được nhân dân Việt Nam ghi nhận. Có thể kể đến như Toàn quyền Đông Dương Paul Dumer (1897-1902) đã cho xây dựng cây cầu Long Biên (Hà Nội), Cầu Tràng Tiền (Huế); Cầu Bình Lợi (Sài Gòn), cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) và đặc biệt, cuốn hồi ký “L'Indo-Chine française - Souvenirs” (Xứ Đông Dương – Hồi ký) của ông (đã được dịch sang tiếng Việt) chứa đựng nhiều tư liệu lý thú, thông tin đáng tham khảo, nghiên cứu về xứ Đông Dương thời kỳ đó; Toàn quyền Đông Dương Paul Beau (1902 - 1906) trong quá trình cai trị đã cho thành lập trường Đại học Đông Dương (Trường là thiết chế đại học hiện đại đầu tiên ở Việt Nam, với mô hình đại học đa ngành, có tính liên thông và hiện đại), Toàn quyền Đông Dương Anber Sardo (1917 – 1919) người cho xây dựng đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt (là một trong những tuyến đường sắt răng cưa độc đáo trên thế giới);  …

    Những chính sách đưa ra và thực thi trong nhiệm kỳ của từng Toàn quyền là dẫn chứng điển hình nhất, sát thực nhất để nghiên cứu về chế độ cai trị của Pháp đối với thuộc địa, mặt khác, đây cũng là những thông tin quan trọng để hình dung ra bộ máy chính quyền, tổ chức hành chính tại các cơ quan trung ương, địa phương; sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống giao thông, văn hóa, giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ phong kiến nửa thuộc địa kéo dài hơn 80 năm. Danh sách Toàn quyền, quyền Toàn quyền Đông Dương dưới đây (2), cũng như các tài liệu lưu trữ về chính sách, sắc lệnh, quyết định trong nhiệm kỳ làm việc của Toàn quyền, quyền Toàn quyền Đông Dương đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước là một nguồn sử liệu rất đáng chú ý đối với các độc giả quan tâm nghiên cứu.

Danh sách Toàn quyền Đông Dương

(1887 - 1945)

 

TT

Toàn quyền   Đông Dương

Ghi chú

1

Jean Antoine Ernest Constans

- Được bổ nhiệm tạm giữ chức Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 3/11/1887;

- Nhậm chức ngày 16/11/1887. Giữ chứ Toàn quyền đến ngày 21/4/1888;

- Về Pháp ngày 22/4/1888.

2

Guillaume Richaud

- Quyền Toàn quyền từ ngày 22/4/1888;

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền từ ngày 8/9/1888;

- Về Pháp ngày 27/5/1889.

3

Jules Georges Piquet

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 10/5/1889;

- Nhậm chức ngày 31/5/1889;

- Về Pháp nghỉ phép ngày 12/4/1898.

4

Bideau

Quyền Toàn quyền từ ngày 13/4 đến ngày 25/6/1891.

5

Jean De Lanessan

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 21/4/1891;

- nhậm chức ngày 6/6/1891;

- Về Pháp ngày 27/5/1889.

6

Jean Chavassieux

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 10/5/1889;

- Nhậm chức ngày 31/5/1889;

- Về Pháp nghỉ phép ngày 12/4/1891.

7

Pierre Francois

Rodier

Quyền Toàn quyền từ ngày 13/4 đến ngày 25/6/1891.

8

Paul Armand Rousseau

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 21/4/1891;

- Nhậm chức ngày 26/6/1891;

- Về Pháp ngày 11/3/1894;

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 27/10 đến ngày 30/12/1894.

9

Augustin Julien Fourès

Toàn quyền từ ngày 21 háng 10 năm 1985 đến ngày 14 tháng 3 nam 1986.

10

Paul Armand Rousseau

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 14 tháng 3 năm 1986;

- Mất tại Hà Nội ngày 10 tháng 12 năm 1986.

11

Augustin Julien Fourès

Quyền Toàn quyền từ ngày 10 tháng 12 năm 1896 đến ngày 12 tháng 2 năm 1897.

12

Paul Doumer

- Toàn quyền từ ngày 13 tháng 2 năm 1897 đến ngày 28 tháng 9 năm 1898;

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 25 tháng 01 năm 1899 đến ngày 15 tháng 2 năm 1901;

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 21 tháng 8 năm 1901 đến ngày 13 tháng 3 năm 1902.

13

Augustin Julien Fourès

Quyền Toàn quyền từ ngày 29 tháng 9 năm 1898 đến ngày 24 tháng 01 na8m 1899.

14

Auguste Broni

Quyền Toàn quyền từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 20 tháng 8 năm 1901.

15

Auguste Broni

Quyền Toàn quyền từ ngày 14 tháng 3 đến ngày 14 tháng 10 năm 1902.

16

Paul Beau

- Toàn quyền từ ngày 15 tháng 10 năm 1902 đến ngày 30 tháng 6 năm 1905;

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 07 tháng 12 năm 1905 đến ngày 28 tháng 7 năm 1906 (Về Pháp).

17

Auguste Broni

Quyền Toàn quyền từ ngày 01 tháng 7 đến ngày 6 tháng 12 năm 1905.

18

Auguste Broni

Quyền Toàn quyền từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 02 tháng 01 năm 1907.

19

Louis Alphonse

Quyền Toàn quyền từ ngày 28 tháng 2 năm 1908 đến ngày 23 tháng 9 năm 1908.

20

Antony Klobukowski

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 26 tháng 6 năm 1908;

- Nhậm chức ngày 24 tháng 9 năm 1908;

- Toàn quyền từ 24 tháng 9 năm 1908 đến tháng 01 năm 1910.

21

Albert Picquié

Quyền Toàn quyền từ ngày 13 tháng 01 năm 1910 đến ngày 11 tháng 6 năm 1911.

22

Paul Louis Luce

Quyền Toàn quyền từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 14 tháng 11 năm 1911;

23

Albert Sarraut

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 01 tháng 6 năm 1911;

- Nhậm chức ngày 15 tháng 11 năm 1911.

24

Van Vollenhoven

- Phó Toàn quyền chịu trách nhiệm các công việc của phủ Toàn quyền Đông Dương từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 4 tháng 8 năm 1914;

- Giữ chức Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 5 tháng 8 năm 1914 đến ngày 4 tháng 3 năm 1915.

25

Ernest Roume

- Được bổ nhiệm làm theo Sắc lệnh ngày 26 tháng 1 năm 1915;

- Nhậm chức ngày 5 tháng 3 năm 1915;

- Toàn quyền từ ngày 5 tháng 3 năm 1915 đến tháng 5 năm 1916.

26

Jean Charles

Quyền Toàn quyền từ ngày 23 tháng 5 năm 1916 đến ngày 21 tháng 01 năm 1917

27

Albert Sarraut

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 7 tháng 01 năm 1917;

- Nhậm chức ngày 22 tháng 01 năm 1917;

- Giữ chức đến ngày 21 tháng 5 năm 1919.

28

Maurice Mongullot

Quyền Toàn quyền từ ngày 22 tháng 5 năm 1919 đến ngày 19 tháng 02 năm 1920

29

Maurice Long

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 10 tháng 12 năm 1919;

- Nhậm chức ngày 20 tháng 2 năm 1920;

- Về Pháp công tác ngày 18 tháng 11 năm 1920.

30

Maurice Gallen

Quyền Toàn quyền từ ngày 18 tháng 11 năm 1920 đến ngày 31 tháng 3 năm 1921.

31

Maurice Long

- Tiếp tục làm Toàn quyền từ ngày 01 tháng 4 năm 1921;

- Về Pháp công tác ngày 15 tháng 4 năm 1922;

- Chết tại Colombo ngày 15 tháng 1 năm 1923.

.32

Audoin

Quyền Toàn quyền từ ngày 15 tháng 4 năm 1922 đến ngày 9 tháng 8 năm 1923.

33

Martial Merlin

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 20 tháng 2 năm 1923;

- Nhậm chức ngày 10 tháng 8 năm 1923;

Giữ chức đến ngày 22 tháng 4 năm 1925.

34

Maurice Monguillot

Quyền Toàn quyền từ ngày 23 tháng 4 năm 1925 đến ngày 17 tháng 11 năm 1925.

35

Anlexandre Varenne

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 28 tháng 7 năm 1925;

- Nhậm chức ngày 18 tháng 11 năm 1925;

- Về Pháp công tác ngày 4 tháng 10 năm 1926.

36

Pierre Pasquier

Quyền Toàn quyền từ ngày 4 tháng 10 năm 1926 đến ngày 16 tháng 5 năm 1927.

37

Alexandre Varenne

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 17 tháng 5 năm 1927;

- Về Pháp công tác ngày 01 tháng 11 năm 1927.

38

Maurice Monguillot

Quyền Toàn quyền từ ngày 01 tháng 11 năm 1927 đến ngày 06 tháng 8 năm 1928.

39

Eugène Jean Louis René Robin

Quyền Toàn quyền từ ngày 07 tháng 8 năm 1928 đến ngày 26 tháng 12 năm 1928.

40

Pierre Pasquier

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 23 tháng 8 năm 1928;

- Nhậm chức ngày 26 tháng 12 năm 1930;

- Tiếp tục giữ chức Toàn quyền từ ngày 30 tháng 6 năm 1931;

- Về Pháp công tác ngày 04 tháng 01 năm 1934;

Chết ngày 15 tháng 01 năm 1934.

41

Eugène Jean Louis René Robin

Quyền Toàn quyền từ ngày 01 tháng 12 năm 1930 đến ngày 30 tháng 6 năm 1931.

42

Maupice Graffeuil

- Chịu trách nhiệm về các công việc của Phủ Toàn quyền Đông Dương theo Sắc lệnh ngày 14 tháng 01 năm 1934;

- Được bổ nhiệm làm Quyền Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 2 tháng 3 năm 1934.

43

Eugène Jean Louis René Robin

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 27 thàng 2 năm 1934;

- Nhậm chức ngày 23 tháng 7 năm 1934.

44

Auguste Silvestre

- Được bổ nhiệm làm Quyền Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 9 tháng 9 năm 1936.

45

Jules Brevié

- Được bổ nhiệm làm Toàn quyền theo Sắc lệnh ngày 8 thàng 8 năm 1936;

- Nhậm chức ngày 14 tháng 01 năm 1937.

46

Georges Catroux

Toàn quyền từ tháng 5 năm 1940 đến tháng 6 năm 1940.

47

Jean Decoux

Toàn quyền từ tháng 6 năm 1940 đến tháng 2 năm 1945.

48

Yuichi Tsuchihashi

1945 (sau Đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945).

49

Tsukamoto

1945 (thay cho tsuchihashi).

50

D'Argenlieu

Cao ủy Pháp tại Đông Dương từ tháng 8 năm 1945.

 

Một số hình ảnh về các công trình được xây dựng dưới chế độ Toàn quyền Đông Dương.

 

Khánh thành nối lên cầu Dumer (cầu Long Biên).

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.

 

 

Đại học Đông Dương (hiện nay do Đại học Dược và Đại học Quốc gia Hà nội quản lý và sử dụng).

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.

 

Đường ray răng cưa đoạn qua đèo Ngoạn mục (thuộc tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt).

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.

Chú thích:

1/ Ngày 17/12/1887, Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh hành lập Liên bang Đông Dương, đứng đầu là Toàn quyền Đông Dương.
2/ Danh sách toàn quyền Đông Dương được trích tại Sách: Tổ chức bộ máy các cơ quan trong chính quyền thuộc địa ở Việt Nam; Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước; nhà xuất bản Hà Nội, 2013.

Tài liệu Tham khảo:

1. Hoàng Hằng, Toàn quyền Đông Dương, luutru.gov.vn, 2016.
2. Bùi Thị Hệ, Các kỳ quan Đông Dương nhìn từ lăng kính của Toàn quyền Albert Sarraut, Luutru.gov.vn, 2013.
3. Hiền Đỗ, Paul Doumer: Người kiến tạo hay thực dân bóc lột Đông Dương, https://news.zing.vn, 07/04/2016.
4. PGS.TS. Trần Nam Tiến, Tổ chức và hoạt động của Liên bang Đông Dương qua nguồn tài liệu phông phủ Thống đốc Nam Kỳ, Hội thảo khoa học, Phông Phủ Thống đốc Nam kỳ - Tiềm năng di sản tư liệu, 17/10/2015.
5. Nguyễn Văn Trường, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer với đường sắt Đông Dương, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, S. 6 (2009),
6. Tổ chức bộ máy các cơ quan trong chính quyền thuộc địa ở Việt Nam; Cục Văn thư Lưu trữ nhà nước; nhà xuất bản Hà Nội, 2013.
7. Hoàng Hằng, Quá trình hình thành và phát triển của Đại học Đông Dương qua tài liệu lưu trữ, http://luutruquocgia1.org.vn, 2016.

Trần Ngọc - Trung tâm Tin học