11:40 AM 06/09/2021  |   Lượt xem: 299  | 

Sắc lệnh số 175b/NV-PC ngày 6/9/1946 về việc đặt ra một “Thẻ công dân” đặt nền móng cho việc xây dựng các văn bản quy định về căn cước công dân trên toàn lãnh thổ Việt Nam sau này.

Trong năm đầu xây dựng chính quyền mới, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành nhiều chính sách nhằm từng bước kiện toàn cơ cấu tổ chức, xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước non trẻ, khắc phục khó khăn kinh tế tài chính, phát triển văn hoá giáo dục…

 

Sắc lệnh số 175b/NV-PC ngày 6/9/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam  Dân chủ Cộng hoà về việc đặt ra một “thẻ công dân”. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 04, tờ 63-65.
 

Đặc biệt, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trên đất nước Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch dân sự hàng ngày trên lãnh thổ Việt Nam, ngày 6/9/1946, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, được sự thỏa hiệp của Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 175b/NV-PC về việc đặt ra một “Thẻ công dân” (nay là thẻ Căn cước Công dân). Quy này được áp dụng cho tất cả người dân Việt Nam bất luận đàn ông hay đàn bà tuổi từ 18 trở lên [1].

Ở Việt Nam, thẻ căn cước được sử dụng trong thời Pháp thuộc 1884 -1945 như giấy thông hành hoặc giấy chứng minh trong phạm vi toàn Đông Dương, theo Sắc lệnh số 175b/NV-PC, thẻ công dân được sử dụng thay cho thẻ căn cước.

Thẻ công dân là một loại giấy tờ tuỳ thân của công dân Việt Nam, có thông tin về nhân thân và những đặc điểm riêng của mỗi công dân, bao gồm: tên, họ, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, tên bố mẹ, nguyên quán, trú quán, chức nghiệp... [2]. Công dân không bắt buộc phải ký hoặc dán ảnh vào Thẻ công dân và người nhận Thẻ công dân phải nộp cho Uỷ ban phát thẻ tiền in thẻ là 0$50 [3].

Thẻ công dân này sẽ do Ủy ban hành chính xã, thị xã hoặc Uỷ ban Thành phố, nơi nguyên quán hoặc trú quán của công dân phát [4] cho công dân Việt Nam, Thẻ công dân có dấu và chữ ký của Ủy ban phát thẻ.

Về cách thức kiểm soát số thẻ đã phát cho thành phố, các thị xã, các tỉnh, các xã và khu phố Sắc lệnh nêu rõ“Ủy ban hành chính nơi phát thẻ phải giữ một quyển sổ kê danh sách những người lĩnh thẻ [5]”.

Sắc lệnh cũng quy định việc cấp lại thẻ khi bị mất hoặc hư nát. Khi mất thẻ người công dân phải trình ty Công an nơi mất và báo cho Ủy ban Hành chính nơi đã phát thẻ và người công dân ấy có thể xin lĩnh thẻ khác tại Ủy ban hành chính nơi phát thẻ đã mất. Thẻ mới sẽ đề rõ là “Bản sao”. Khi thẻ hư nát công dân cũng có thể xin được bản sao do Ủy ban Hành chính đã phát thẻ trước phát cho.

Ngoài ra, khi dùng thẻ người khác hay cho người khác mượn thẻ sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến một năm và phạt tiền hoặc một trong hai thứ phạt ấy.

Về mẫu thẻ công dân, theo Sắc lệnh này, thẻ công dân có chiều ngang là 14 phân mốt, chiều dọc là 11 phân mốt. Ở mặt ngoài, góc bên phải bên trên có ghi quốc hiệu “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”; ở giữa có hai đường chéo song song với nhau, giữa hai đường chéo là hình ngôi sao màu vàng và xung quanh là nền màu đỏ; góc phía dưới bên phải ghi dòng chữ in hoa “THẺ CÔNG DÂN”.

 

Mặt ngoài của thẻ công dân theo Sắc lệnh số 175b/NV-PC.

 

Ở mặt trong, phần chính giữa phía trên ghi “THẺ CÔNG DÂN Tỉnh hay Thành phố…”; góc trên bên phải ghi “số…” của thẻ công dân. Bên trái có phần để dán ảnh và ghi chữ ký. Bên phải có các nội dung: Họ và tên, Ngày sinh, Nơi sinh, Con ông:… và bà:…., Nguyên quán, Trú quán, nghề nghiệp. Ở cuối góc bên phải có ghi ngày tháng năm và cơ quan phát hành thẻ.

 

Mặt trong của thẻ công dân theo Sắc lệnh số 175b/NV-PC.

 

Với những quy định cụ thể, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trên đất nước Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch dân sự hàng ngày trên lãnh thổ Việt Nam, Sắc lệnh số 175b/NV-PC ngày 6/9/1946 đặt nền móng cho việc xây dựng các văn bản quy định về căn cước công dân ở Việt Nam sau này. Bản gốc của Sắc lệnh này hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 04, tờ 63-65, có chữ ký của ông Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

--------------------------------

Chú thích:

1,2,3,4,5. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 04, tờ 63.

Trần Thị Hoàn (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)