09:40 AM 10/11/2020  |   Lượt xem: 181  | 

Quốc Tử Giám ở Huế - Trường đại học quốc gia duy nhất ở Việt Nam dưới triều Nguyễn tọa lạc tại số 1 đường 23 tháng 8 phường Thuận Thành trong Kinh thành Huế, hiện nay là Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên Huế.

       Theo sử liệu ghi chép, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long lên ngôi lấy đất Huế làm Kinh đô. Tháng 7 năm Gia Long thứ 2 (1803), ông cho dựng nhà Đốc học hay còn gọi là Quốc Học đường. Lấy Phan Đăng Ưng làm Đốc học chính đường, Nguyễn Viết Ưng làm Đốc học giáp phó đường, Trương Chí Lý làm Đốc học ất phó đường. Định phép khảo khóa học trò. (1)Trường sở ban đầu tạm thời, gồm một ngôi nhà chính ở giữa, gọi là Quốc học Chánh đường và hai nhà phụ hai bên gọi là tả, hữu vu.

       Tháng 2 năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), vua Minh Mệnh bắt đầu cho bàn định quy trình nhà Quốc Tử Giám(2). Trường Quốc Tử giám chính thức được xây dựng vào mùa Xuân năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) tại địa phận làng An Ninh, về phía Tây Kinh thành, gần chùa Thiên Mụ. Ở giữa là giảng đường, phía trước là Di Luân Đường, hai bên tả, hữu làm phòng cho tôn sinh đều 3 gian; phòng cho giám sinh và ấm sinh đều 19 gian. Vua Thiệu Trị, khi làm thơ vịnh 12 cảnh đẹp chốn kinh kỳ, đã gọi nơi này là Hoàng Vũ thư thanh (tiếng giảng sách ở Quốc Tử Giám) khắc vào bia và dựng nhà bia ở phía trước cửa Quốc Tử Giám. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) dựng thêm nhà của học quan ở phía hữu gồm 15 gian, lại dựng thêm phòng của giám sinh và ấm sinh ở phía tả gồm 19 gian. Năm Tự Đức thứ 7 (1854) trong một lần, vua Tự Đức đến thăm trường học đã ban sắc thư và thơ ngự chế gồm 14 bài cùng lời tựa, khắc vào bia đá và dựng ở trước sân trường.(3)

       Trong Châu bản Triều Nguyễn, bản tấu của Bộ Lễ và Bộ Công ngày 29 tháng 5 năm Tự Đức 8 (1855) có ghi về việc khắc bia và lựa chọn vị trí đặt tấm bia, ghi toàn bộ bản sắc thư và chùm thơ của vua Tự Đức (4).

Bản tấu của Bộ Lễ và Bộ Công ngày 29 tháng 5 năm Tự Đức 8 (1855) về việc khắc bia thái học và chọn vị trí đặt bia.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn.

       Trải qua thời gian cùng sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đặc biệt là trận bão lịch sử năm Thành Thái thứ 16 (1904) càn quét kinh thành Huế, khiến cho nhiều kiến trúc của Quốc Tử Giám bị hư hỏng nặng. Châu bản ngày 6 tháng 5 năm Thành Thái thứ 19 (1907) cho biết: Ngày tháng 6 năm ngoái nhận được tờ trình của Quốc Tử Giám về việc: Tường gạch, cánh cửa, cửa cuốn của 2 công đường Tế tửu, Tư nghiệp và nhà bếp ngày tháng 8 năm Thành Thái 16 (1904) bị gió bão nên ngói lợp vật liệu đều bị bay rơi hư hỏng không thể cư trú, trình xin xem xét. Bộ thần đã sai thuộc viên kiểm tra hạng nào hư hại bao nhiêu ghi chép đầy đủ, cùng sức dự trù các hạng nhân công thợ, vật liệu cần thuê mua, tổng cộng chi 330 nguyên 5 mao 5 tiền, xin trích từ khoản tiền công tác tại Kinh năm nay để chi mua sắm tu bổ.(5)

       Tháng 12 năm 1907, vua Duy Tân cho xây dựng Tân Thư viện trong cửa Đông Nam kinh thành, về kiến trúc được dựng lại từ điện Long An của cung Bảo Định. Châu bản ngày 24 tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 (1908) có ghi về việc này như sau: Bộ Công tâu…Kỳ hội bàn ngày tháng 10 năm ngoái (1907), quý Khâm sứ đại thần bàn rằng muốn cho tháo dỡ điện Long An để chọn lấy gỗ lạt xây dựng thư viện. Xin do Bộ thần trù nghĩ lựa chọn một khu đất trong cửa Đông Nam đối diện với viện Cơ Mật mới để xây dựng thư viện đó. Lại đem Quốc Tử Giám chuyển vào đó(6). Tháng 10 năm (1908), vua Duy Tân cho dời Quốc Tử Giám vào trong cửa Đông Nam Kinh thành gần với Tân Thư viện. Khuân viên Trường có sự thay đổi. Xung quanh trường có tường gạch bao quanh. Sau tam quan là một cái sân rộng. Chính giữa là Di Luân Đường, nhà này do Bộ Công lấy gỗ ván ở nhà Minh Trưng Các khi triệt giải cung Bảo Định để xây dựng nên. Trì Khiêm viện đổi làm Tả Giảng đường, nhà ở của quân Tứ Vệ đổi làm Hữu Giảng đường. Góc Tây Bắc của khuôn viên là nhà của quan Tế tửu.(7)

       Tân Thư viện trở thành Bảo tàng Khải Định vào năm 1923. Do vậy, trường phải cho lập một thư viện khác mang tên Thư viện Bảo Đại nằm phía sau Di Luân Đường. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhà Nguyễn cáo chung, Quốc Tử Giám cũng chính thức chấm dứt vai trò của mình, kiến trúc của trường gần như được giữ nguyên không thay đổi.

       Trong khoảng 1957 – 1964, Di Luân Đường là trụ sở của Viện Hán Học thuộc Đại Học Huế; tất cả cơ sở còn lại dùng làm trường sở của trường Trung học Hàm Nghi từ năm 1956 đến năm 1975. Ngày nay, Quốc Tử Giám ở Huế trở thành Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng Thừa Thiên Huế.(8)

       Với gần 150 năm tồn tại, Quốc Tử Giám ở Huế đã thực hiện tốt vai trò là trường đại học quốc gia duy nhất của nhà Nguyễn. Nơi đây đã đào tạo ra hơn 500 tiến sĩ, phó bảng và các vị hiền tài phục vụ cho quốc gia lúc bấy giờ. Tháng 12 năm 1993, Quốc Tử Giám cùng với hệ thống di tích cung đình triều Nguyễn đã chính thức được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới.

       Chú thích tài liệu tham khảo:

       1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.565

       2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.52.

       3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (Viện Sử học dịch), Nxb Thuận Hóa, H.2006, tập 1, tr.75-76.

       4. Châu bản Triều nguyễn, Tự Đức tập 53, tờ 262.

       5. Châu bản Triều nguyễn, Thành Thái tập 74, tờ 197.

       6. Châu bản Triều nguyễn, Duy Tân tập 12, tờ 111.

       7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục – Chính biên đệ lục kỷ (Cao Tự Thanh dịch), Nxb Văn Hóa –Văn Nghệ, Tp HCM 2012, trang 187.

       8. Từ điển nhà Nguyễn, Võ Hương An,  Nam Việt xuất bản, California, USA 2012, tr 526.

Lê Thị Thông (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)