09:09 AM 09/11/2021  |   Lượt xem: 471  | 

Trước những diễn biến mới tại Đông Dương sau khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, tháng 9/1919, Bộ trưởng Bộ chiến tranh cùng Bộ trưởng Thuộc địa của Pháp đã thảo luận và quyết định gửi một đơn vị đặc biệt nhằm nghiên cứu các điều kiện cũng như khả năng sử dụng xe tăng chiến đấu tại đây.

    Tổ chức và nhiệm vụ của những xe tăng đầu tiên ở Đông Dương

    Quân số của đơn vị đặc biệt này huy động từ các trung đoàn xe tăng chiến đấu khác nhau của Pháp được tập trung về thành phố Besançon (1). Nhân sự gồm có 2 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan, 2 cai và 10 lính cùng với các phương tiện chiến đấu là 5 xe tăng, 1 xe hơi, 1 xe tải cùng đạn dược sẽ thuộc biên chế của Trung đoàn xe tăng chiến đấu số 506 (506è Régiment de chars de combat), được xem là đơn vị biệt phái của trung đoàn này tại Đông Dương. Ngày 11/10/1919, theo lệnh của Bộ trưởng Bộ chiến tranh, đơn vị biệt phái này di chuyển về Marseille và chính thức chuyển thuộc quyền quản lí trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa. Ngày 23/11/1919, tàu hơi nước Indochine (2) rời cảng Marseille chở nhân sự lẫn những chiếc xe tăng đầu tiên của Pháp tới Đông Dương và sau 70 ngày lênh đênh trên biển, ngày 1/2/1920, tàu cập cảng Hải Phòng. Năm xe tăng được vận chuyển bằng đường sắt và đến Hà Nội ngày 8/2/1919, mở đầu cho sự hiện diện của phương tiện chiến đấu này trên chiến trường Đông Dương. Tuy nhiên, tướng Richard Maurice Buchette Puypéroux-Tổng chỉ huy các đơn vị Pháp tại Đông Dương không nhận được bất kỳ hướng dẫn hay chỉ thị nào từ Bộ Chiến tranh về nhiệm vụ cũng như tổ chức của đơn vị xe tăng này.

Dựa trên kết quả các khảo sát trước đó của công binh Pháp tại đồng bằng châu thổ, trung và thượng du sông Hồng, kế hoạch thử nghiệm của 5 xe tăng vừa đến Hà Nội là phải di chuyển thành công trên các địa hình là những cánh đồng lúa ngập nước     hoặc xuyên thủng những rào lũy tre dày đặc. Tháng 6/1920, tướng Puypéroux trình Bộ trưởng Bộ chiến tranh bản kế hoạch về việc thành lập hai đại đội xe tăng: một cho quân đội Pháp ở Trung Kỳ-Bắc Kỳ và một cho Nam Kỳ-Cao Miên (Campuchia ngày nay). Cùng với kế hoạch đó là đề nghị chuyển những xe tăng đang bị quân Pháp bỏ xó ở ở Vladivostock về Đông Dương.

    Ngày 22/11/1920, Bộ Thuộc địa ra chỉ thị thành lập 2 phân đội xe tăng xung kích (char d’assaut) tại Đông Dương, đi vào hoạt động từ ngày 1/4/1921. Ngày 1/5/1921, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa quyết định hai phân đội xe tăng chính thức được phiên chế vào quân số các đơn vị thuộc địa. Phân đội tại Hà Nội được gọi là Phân đội I thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9ème R.I.C) gồm toàn bộ nhân sự và thiết bị gửi từ Pháp sang trước đó, đặt dưới quyền chỉ huy của tướng sư đoàn trưởng Sư đoàn Trung-Bắc Kỳ. Phân đội ở Sài Gòn (1 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan, 1 hạ sĩ tới Sài Gòn ngày 1/12/1920 cùng với 5 xe tăng thu chuyển từ Vladivostock) là Phân đội II thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11ème R.I.C) đặt dưới quyền chỉ huy của lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3.

 

Quân Pháp thử nghiệm cho xe tăng chọc thủng hàng tre ngày 11/5/1920 ở Hà Đông. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

 

Quân Pháp thử nghiệm cho xe tăng lội ruộng ngày 11/5/1920 ở Hà Đông. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

 

 

    Khảo sát, thử nghiệm trước khi trở thành vũ khí chiến đấu

    Giai đoạn chuẩn bị cho sử dụng xe tăng chiến đấu đánh dấu bằng hàng loạt khảo sát của công binh Pháp ở khu vực đồng bằng châu thổ, trung và thượng du sông Hồng, nhằm đánh giá khả năng giao thông của đất, cách tiếp cận các tỉnh bằng đường bộ, đường thủy hoặc đường sắt, phương tiện đổ bộ có thể sử dụng, đo độ bền chắc của các cầu, phà hiện có (vốn chịu được trọng tải tối đa 8 tấn), đề xuất phương tiện vượt sông thay thế trong trường hợp cầu phà không đáp ứng, phân tích điều kiện sửa chữa của bộ phận cầu đường tại các tỉnh. Theo kết luận của công binh Pháp, tuy địa hình khá khó khăn do có cả đồng bằng lẫn đồi núi hiểm trở, nhưng đổi lại điều kiện giao thông ở Bắc Kỳ lại khá thuận lợi do có cả ba loại hình giao thông đường sắt, đường bộ lẫn đường thủy trong vận chuyển trên phần lớn khu vực này.

    Những khảo sát của Pháp tại Trung Kỳ-Bắc Kỳ gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Móng Cái, Quảng Yên, Phủ Lạng Thương, Sơn Tây, Phú Thọ, Thái Nguyên, Chợ Chũ, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Huế, Đà Nẵng và Hội An (Faifoo). Pháp quan tâm đặc biệt đến khảo sát cảng Đà Nẵng - cảng đóng vai trò chiến lược về quân sự, bởi xe tăng Pháp có thể đổ bộ tại đây và tiến vào Trung Kỳ nhờ tuyến đường sắt nối Đà Nẵng - Huế.

    Ngày 11/5/1920, ba trong số năm xe tăng đầu tiên ở Đông Dương bắt đầu thực nghiệm địa hình ở Hà Đông, trước sự chứng kiến của tướng Puypéroux với chương trình tập trận là xe tăng Pháp phải vượt qua những đồng lúa ngập nước, tiếp đến là chọc thủng thành lũy bảo vệ là những lũy tre cao vút dày tới 1,8m rồi vượt qua một con đê để tiến sâu vào trong làng (3).

    Đầu tháng 12/1920, phân đội I có những tập trận đầu tiên tại Cầu Giấy, vẫn trong địa hình bắt buộc là lội ruộng và chọc thủng các hàng tre. Ngày 22/12/1920, quân Pháp gửi 2 xe tăng xuống Bắc Ninh theo yêu cầu của tướng Nogues, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 để tập trận trong điều kiện lên và xuống gò đất cao, vượt qua những ruộng lúa, chọc thủng các hàng tre dày 2,5m. Tối ngày 28/12/1920, quân Pháp di chuyển các xe tăng tới Lạng Sơn để tập trận ở Kỳ Lừa, ngày 30/12/1920, tập trận cách Phủ Lạng Thương 6km.

    Ở Nam Kỳ- Cao Miên, công binh Pháp khảo sát các địa điểm ở Vũng Tàu, Bạc Liêu, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Phan Thiết, Nha Trang, núi Hòn Bà, Phnom-Pênh, Kompong-Chnang và Battambang. Đây là vùng có ít nhánh đường sắt, để có thể tiến sâu vào nội địa, quân Pháp chỉ có thể di chuyển bằng đường thủy. Từ ngày 12-24/12/1920, Pháp tập trận đổ bộ xe tăng bằng sà lan tại Thủ Dầu Một và ngày 6/2/1921, đích thân Thống đốc Nam Kỳ chứng kiến xe tăng Pháp diễn tập ngay giữa thành Sài Gòn với các chướng ngại vật (dây thép, hàng rào tre, đường hào đổ đầy nước, nhà tranh) được dựng lên. Khi khảo sát núi Hòn Bà theo đề nghị của viên giám đốc Viện Pasteur, công binh Pháp nhanh chóng nhận ra rằng ngọn núi này có vị trí khá quan trọng về mặt quân sự, giúp các đơn vị Pháp có thể tiến vào vùng đất của người Thượng.

    Kết quả của hàng loạt thử nghiệm thực địa trong 30 tháng giúp quân Pháp nhận thấy, loại xe tăng hạng nhẹ hiệu Renault đáp ứng được tình hình thực tế tại Đông Dương, nhưng cần có những thay đổi trong thiết kế. Ròng rọc dẫn động bằng gỗ được thay bằng kim loại để phù hợp với thời tiết nóng, đặc biệt là ở Nam Kỳ. Tăng tầm ngắm bắn bằng cách tăng độ nghiêng và do địa hình chủ yếu là đồi núi buộc tầm nhìn xa phải tăng lên. Thêm vào đó, để đảm bảo an toàn, các góc xẻ được lắp bằng các tấm trượt.

 

Xe tăng Pháp ở Sài Gòn tháng 2/1921. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

 

    Những thử nghiệm thực địa cho thấy xe tăng hạng nhẹ của Renault có thể vượt qua các cầu hiện có ở Đông Dương, dễ dàng trong vận chuyển bằng đường sắt, có thể dùng phà hoặc tàu vận chuyển qua sông và quân Pháp tận dụng các xe tải quân sự hiện có trong vận chuyển.

    Tướng chỉ huy tối cao các đơn vị Pháp tại Đông Dương cho rằng, việc xe tăng tham chiến sẽ giúp quân Pháp vô hiệu hóa hỏa lực là súng trường của lực lượng kháng chiến chống Pháp do họ chưa có vũ khí chống tăng. Các khẩu đại bác 37 li không xuyên thủng các dãy tre dày đặc, nhưng súng tự động được trang bị trên xe tăng Renault có thể làm được điều đó. Xe tăng sẽ làm nhiệm vụ dọn đường cho bộ binh trong đi càn. Ngoài ra, do được trang bị thiết bị thu phát điện tín, xe tăng sẽ giúp quân Pháp liên lạc và phối hợp hiệu quả kể cả khi đóng quân lẫn khi tác chiến.

    Cũng theo các chỉ huy quân Pháp, xe tăng chiến đấu sẽ góp phần đẩy nhanh kế hoạch bình định của họ trên toàn cõi Đông Dương, đặc biệt là ở Việt Nam- nơi mà các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra khắp nơi từ Bắc đến Nam.

---------------------

Chú thích:

1.Hồ sơ 10 H 77, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp. Trong hướng dẫn số 5581A.S/3 đề ngày 10/09/1919, Chủ tịch Hội đồng kiêm Bộ trưởng Bộ chiến tranh Pháp nêu rõ các thức tổ chức của đơn vị tăng biệt phái đến Đông Dương.
2.Tàu hơi nước Indochine thuộc phiên chế của Hải quân Pháp ở Đông Dương, ngoài ra trên tàu có có 1 200 là các viên chức Pháp, thương gia và người Đông Dương hồi hương.
3.Theo chỉ huy Pháp, nếu được nghiên cứu đưa vào sử dụng sớm hơn, có thể xe tăng đã giúp quân Pháp giành chiến thắng trong các trận đánh với nghĩa quân tại các làng ở Phúc Yên, Vĩnh Yên, với nghĩa quân cả “hùm xám” Đề Thám những năm 1910 tại những căn cứ được dựng lên giữa đại     ngàn Yên Thế hay đàn áp cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, binh biến Bình Liêu năm 1918.

Ngọc Nhàn (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)