02:55 PM 29/03/2021  |   Lượt xem: 190  | 

Kỳ II. Những nỗ lực quân sự cuối cùng của Pháp ở Bắc Việt Nam

   (Tiếp theo và hết)

     Lực lượng quân Pháp ở Bắc Việt Nam sau thất bại Điện Biên Phủ còn 125 tiểu đoàn trong đó là 28 tiểu đoàn lính Pháp, 23 tiểu đoàn lính Quốc gia Việt Nam, 197 đại đội phụ lực. Ngoài ra, còn có lực lượng bán quân sự là 46 000 dân vệ. Trong 70 tiểu đoàn cơ hữu, 42 tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bảo vệ cơ sở hạ tầng, 28 tiểu đoàn còn lại có nhiệm vụ đối phó với 40 tiểu đoàn quân Việt Minh.

       Kế hoạch Navarre hậu thất bại Điện Biên Phủ

       Hai ngày trước khi Điện Biên Phủ thất thủ hoàn toàn, Tướng Cogny - Chỉ huy Lực lượng lục quân Bắc Việt Nam (F.T.N.V) nêu quan điểm khi được hỏi về suy nghĩ cũng như đề xuất phương hướng hành động: "Việc các đơn vị chiến đấu lớn của Việt Minh hoạt động mạnh trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, được tuyên truyền tích cực tạo không khí chính trị bất lợi cho chúng ta. Nếu chúng ta co cụm các vị trí đóng quân sẽ gia tăng đe dọa từ phía Việt Minh cũng như làm thay đổi hoàn toàn của các đơn vị Việt Nam (thân Pháp). Về đường hướng hành động, tôi đề xuất duy trì bố trí đóng quân như hiện nay, cần chi viện thêm từ các đơn vị bên ngoài (ít nhất 3 binh đoàn cơ động), phân bố hợp lý hơn các đơn vị lục quân Viễn Đông cũng như các đơn vị của Quân đội Quốc gia Việt Nam (thân Pháp). Kế hoạch co cụm lại được chuẩn bị giúp giảm dần khu vực kiểm soát để tăng cường bố trí đóng quân dày đặc, co cụm lực lượng viễn chinh dưới vỏ bọc của Quân đội Quốc gia Việt Nam".

       Ngày 10/5, Tướng Cogny yêu cầu được chỉ thị rõ các vị trí đóng quân phải duy trì và cho biết, cần 25-30 ngày để lặng lẽ sơ tán toàn bộ kho tàng cũng như các cơ quan chủ chốt vào trong phòng tuyến L1. Trước sức ép từ các đợt tấn công của quân Việt Minh, thời hạn này khó xác định và thành công của chiến dịch sơ tán phụ thuộc chủ yếu vào số quân chi viện. Ông ta cũng nhấn mạnh chiến dịch co cụm này tác động tiêu cực không chỉ lên tinh thần của quân Quốc gia Việt Nam mà còn cả với các đơn vị lục quân Pháp ở Viễn Đông.

       Theo chỉ thị của Chính phủ Pháp, ưu tiên bảo toàn lực lượng viễn chinh ở Viễn Đông cũng như chuyển dần lực lượng sang khu vực Nam Vĩ tuyến 18, bản kế hoạch hậu Điện Biên Phủ của Tướng Henri Navarre gồm những biện pháp sau: Thứ nhất, tập hợp quân Pháp ở Bắc, Trung và Nam Việt Nam, chuyển giao các nhiệm vụ bảo vệ an ninh nội địa tĩnh cho quân đội các nước liên kết, biến các đơn vị của lực lượng viễn chinh trở nên cơ động hơn cho các nhiệm vụ động, dần đồng nhất lực lượng (lính dù, lính lê dương, lính Bắc Phi và châu Phi, Đông Dương) để đối phó với tình trạng tan rã lực lượng do sự đào ngũ hay nổi dậy của lính bản xứ (1); Thứ hai, chuyển giao trách nhiệm hoàn toàn tại một số vùng có lợi ích chiến lược không quan trọng và một số vị trí đóng quân cho Chính quyền Quốc gia Việt Nam, giúp chính quyền này chuẩn bị cuộc chiến tranh đối đầu với Việt Minh trong trường hợp bị Pháp bỏ rơi một phần hoặc hoàn toàn. Tướng Navarre khẳng định Quốc trưởng Bảo Đại không những tán đồng mà rất mong kế hoạch này được thông qua; Thứ ba, tổ chức đóng quân tạo thành rào chắn ở Vĩ tuyến 18 để bảo vệ kiểm soát miền Trung và Nam Việt Nam trước các cuộc tấn công có thể được Việt Minh tiến hành vào mùa thu trên đà chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông ta khẳng định kế hoạch này thể hiện thái độ kiên quyết của quân Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ nhằm đạt được một thỏa thuận đình chiến và nếu Hội nghị Genève thất bại, cuộc chiến Đông Dương có thể được quốc tế hóa bằng sự can thiệp của Mỹ.

       Những nỗ lực quân sự cuối cùng của Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ có thể chia làm ba giai đoạn như sau: Giai đoạn 1 từ thất bại Điện Biên Phủ đến cuộc hành binh Auvergne (7/5 - 28/6/1954), giai đoạn 2 từ cuộc hành binh Auvergne ngày 28/6 đến 10/7/1954 và giai đoạn 3 từ ngày 10 - 27/7 cùng với lệnh ngừng bắn.

       Giai đoạn 1 từ ngày từ 7/5 đến ngày 28/6

       Theo quân Pháp, Quân đội Việt Minh sau chiến thắng Điện Biên Phủ triển khai đặc biệt ở 4 vùng sau: từ  5 - 6 tiểu đoàn và 14 đại đội có nhiệm vụ đánh chặn quân Pháp quanh Quốc lộ 5; một số đơn vị Việt Minh đóng ở vùng tam giác Phủ Lý - Nam Định - Ninh Bình có nhiệm vụ tấn công quân Pháp trên các tuyến đường bộ và sông Nam Định; một tiểu đoàn đóng ở Bùi Chu - Phát Diệm và 5 tiểu đoàn khác làm nhiệm vụ tiêu diệt các đồn binh đường bộ và chốt gác đường thủy, chặn mọi chi viện của quân Pháp ở Thái Bình và phía Nam tỉnh Hưng Yên. Trong khi đó, Pháp thiếu quân số, tinh thần của lính trong phần lớn các đơn vị cơ động mệt mỏi. Việc phải đối phó với các đơn vị chiến đấu Việt Minh trên mọi mặt trận ở đồng bằng châu thổ sông Hồng khiến quân Pháp không thể tiến hành các đợt càn quy mô lớn nên chỉ hy vọng giữ được các cơ sở hạ tầng chính yếu.

Các vị trí đóng quân của Pháp và Quân đội Quốc gia Việt Nam ngày 7/5/1954, Hồ sơ 10 H 2532.
 

       Pháp cũng nhận định, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Việt Minh có thể tiến hành các chiến dịch quân sự ở khu vực đồng bằng từ ngày 15/6. Chính vì lẽ đó, Tướng Henri Navarre chỉ thị yêu cầu, thứ nhất về tái cơ cấu bố trí đóng quân: Cần tập hợp các đơn vị thuộc Lực lượng lục quân Viễn Đông vào bên trong phòng tuyến L.1, hoặc thay thế các đơn vị này bằng các đơn vị của Quốc gia Việt Nam hoặc rút hoàn toàn các tiểu đoàn khỏi các vị trí đóng quân không hữu ích. Điều này giúp quân Pháp tăng quân số chiến đấu cơ động và giao việc phòng thủ Hà Nội - Hải Phòng cho các đơn vị tinh nhuệ. Tuy nhiên, không rút quân quá nhanh để tránh gây xáo trộn và lo lắng cho quân lính Quốc gia Việt Nam. Hai là, huy động các quân khu để tổ chức bố trí lực lượng cơ động vừa có thể hoàn thành các nhiệm vụ bảo vệ an ninh nội địa vừa có thể tham gia chiến đấu (thành lập cái gọi là “Binh đoàn cơ động hạng nhẹ” gồm chốt chỉ huy và phân khu được chi viện về nhân sự, phương tiện vận tải, thiết bị thông tin liên lạc). Thêm vào đó, pháo binh đóng và bảo vệ các vị trí đóng quân được chi viện thêm phương tiện vận tải để trở thành pháo binh “bán cơ động”. Các tiểu đoàn thường trú được trang bị thiết bị hữu cơ có thể trở thành các tiểu đoàn di động khi cần thiết cho tác chiến địa bàn khác.

       Về bố trí đóng quân, Pháp không sử dụng các đơn vị chính quy vào bảo vệ các đồn binh, ngoại trừ những đồn binh phục vụ tác chiến cho binh đoàn cơ động hạng nhẹ. Mọi vũ khí hạng nặng cũng các phương tiện cơ giới được rút đi. Những đồn binh được bảo vệ kiên cố bằng hàng rào bê tông sẽ được xem lập thành phòng tuyến tiền đồn có nhiệm vụ theo dõi, số ít trong đó sẽ được chọn dựa trên vị trí thuận lợi để đóng quân. Chỉ giữ lại bên những đồn binh giúp trực tiếp tham gia bảo vệ hành trình cốt yếu hay vị trí nhạy cảm và các đồn binh này sẽ có quân đồn trú với số lượng thay đổi tùy tình hình. Nói cách khác, chiến lược đồn binh chủ trương giữ lại tối thiểu số đồn binh cần thiết cũng như chuyển đối chức năng của các đồn binh từ cố định sang cơ động tùy theo triển khai quân của các binh đoàn cơ động hạng nhẹ và các sư đoàn.

       Về tác chiến, không quân Pháp đã rải 772 tấn bom tấn công 40 căn cứ trên tổng số 90 căn cứ của Việt Minh theo theo tin tức tình báo quân sự Pháp thu thập được.

Giai đoạn 1 của Auvergne ngày 29 và 30/6/1954 ở Ninh Bình - Phát Diệm.

       Giai đoạn 2 từ ngày 28/6 - 10/7/1954

       Giai đoạn này đánh dấu bằng cuộc hành binh Auvegne. Pháp nhận định, lực lượng quân đội Việt Minh triển khai tại thời điểm này ở đồng bằng châu thổ sông Hồng như sau: khu vực phía Bắc, có 12 tiểu đoàn (6 tiểu đoàn ở Vĩnh Phúc, 6 ở Bắc Giang); ở phía Tây, có 11 tiểu đoàn đóng tại Sơn Tây, Hà Đông và bắc Phủ Lý; ở phía Nam, có 11 tiểu đoàn đóng tại Thái Bình, Ninh Bình và Phát Diệm (Liên Khu 3 còn có 6 tiểu đoàn quân dự bị, 1 trung đoàn đóng ở khu vực giáp biên giới với Trung Quốc và 1 trung đoàn đang tái cơ cấu ở Bùi Chu); ở trung tâm, có 8 tiểu đoàn đóng ở Hưng Yên và khu vực giao giữa Quốc lộ 5 - đường sắt. Do quân đội Việt Minh triển khai tấn công đánh chặn ở Ninh Bình, Phát Diệm, Phủ Lý và phía Bắc tỉnh Thái Bình nên buộc Pháp phải phát động cuộc hành binh Auvergne ngày 28/6 sớm hơn 3 ngày so với dự kiến.

Các vị trí đóng quân của Pháp và Quân đội Quốc gia Việt Nam ngày 28/6/1954, Hồ sơ 10 H 2532.

 

       Quân Pháp tấn công vào các vị trí được cho có triển khai quân Việt Minh, buộc phải hoãn kế hoạch bảo vệ phía Nam đồng bằng trên phòng tuyến chung Vân Đình – Tía - sông Hồng - sông Đuống - sông Thái Bình, tiếp tục việc co cụm bố trí đóng quân đồng thời phải chia quân đối phó với quân Việt Minh trên các “mặt trận” Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Lục Nam. Cuộc hành binh Auvergne huy động cả Lục quân - Không quân - Hải quân Pháp (với 2 sư đoàn xung kích Dinassaut của Hải quân cùng 43 tàu chiến các loại), hòng sốc lại tinh thần chiến đấu của quân Pháp, sử dụng chiến thuật bất ngờ như trong các trận đánh với quân đội Việt Minh ở Phủ Lý. Tiếp sau đó, Pháp tiếp tục rút quân khỏi các khu vực đóng quân ở phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng

       Giai đoạn 3 từ ngày 10/7 - 27/7/1954

       Trước việc Pháp triển khai rút dần quân ở phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, quân đội Việt Minh đã dần làm chủ thế trận. Theo nhận định của Pháp, tính đến giai đoạn này, quân đội Việt Minh đã triển khai quân: ở phía Bắc, có 15 tiểu đoàn (7 ở Vĩnh Phúc, 8 ở Bắc Ninh, Bắc Giang); ở phía Tây, có 13 tiểu đoàn đóng ở Sơn Tây và Hà Đông; ở phía Nam, có 18 tiểu đoàn đóng ở Hưng Yên và Ninh Giang (tổng số có 46 tiểu đoàn, ngoài ra còn có 8 tiểu đoàn dự bị đóng ở 3 ở tả ngạn và 5 ở hữu sông Hồng với nhiệm vụ kiểm soát các tỉnh phía Nam đồng bằng châu thổ).

       Ở phía Bắc, một phần lớn quân Pháp và phương tiện được huy động để đối phó với mặt trận Lục Nam, chỉ có 1 binh đoàn cơ động đóng tại Vĩnh Phúc trong khi các lực lượng bán quân sự suy sút. Ở phía Tây, quân Việt Minh kiểm soát Quốc lộ 1 ở Sơn Tây, khiến quân Pháp gặp khó khăn trong di chuyển khu vực sông Đáy. Còn ở phía Nam, Pháp thành lập cái gọi là vùng tác chiến phía Nam Quốc lộ 5 tại khu vực giữa sông Hồng và sông Thái Bình. Giao tranh giữa quân Pháp và quân đội Việt Minh diễn ra trên cả ba “mặt trận” Vĩnh Yên, Lục Nam và Hưng Yên.

       Mặt trận Hưng Yên bắt đầu từ ngày 6/6, khi Pháp tiến hành sửa chữa Đường liên tỉnh 39 phục vụ cho rút quân, nhưng phải đến tháng 7, giao tranh mới diễn ra quyết liệt. 10 tiểu đoàn Việt Minh triển khai quanh Đường liên tỉnh 39 luôn sẵn sàng phản công. Trong hai ngày 11 và 18/7, giao tranh ác liệt diễn ra buộc Pháp phải huy động xe bọc thép và không quân phản công, các tấn công lẻ tẻ vẫn tiếp diễn cho đến khi có lệnh ngừng bắn.

       Các giao tranh ở mặt trận Vĩnh Yên bắt đầu trước khi cuộc hành binh Auvergne kết thúc. Từ ngày 7 - 16/7, 7 tiểu đoàn Việt Minh tấn công mạnh các vị trí của quân Pháp và đợt hai từ ngày 18/7, các giao tranh chỉ diễn ra trong 48 giờ.

       Ở mặt trận Lục Nam, quân đội Việt Minh tấn công chặt đứt Tỉnh lộ 13 và phía Bắc Tỉnh lộ 17, chiếm các vị trí đóng quân được bê tông hóa. Các phản công của quân đội Việt Minh bắt đầu từ ngày 7/7. Từ ngày 9 - 15/7, Pháp huy động xe bọc thép chống trả các đợt tấn công của 6 tiểu đoàn Việt Minh. Pháp buộc phải rút quân khỏi trại lính Erulin (2) - vị trí then chốt của mặt trận phía Bắc ngày 14/7, hai cây cầu trên Tỉnh lộ 13 bị phá hủy hoàn toàn khiến bộ binh Pháp không thể triển khai quân ứng cứu. Pháp chủ trương phải tái chiếm lại Trại Erulin nên điều hai binh đoàn cơ động tập trung từ phía Đông và Tây, với sự yểm trợ của công binh và xe bọc thép phản công đầy lùi quân Việt Minh.

       Ngày 21/7/1954, một thỏa thuận đình chiến ở ba nước Đông Dương được ký tại Hội nghị Genève, những nỗ lực quân sự cuối cùng không giúp cứu vãn tình hình của Pháp tại miền Bắc Việt Nam cũng như trên bàn thương lượng. Chiến thắng của quân đội Việt Minh tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã mở đầu cho hồi kết của sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương./.

Chú thích:

1. Theo báo cáo trong Hồ sơ 10 H 2552, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp, từ ngày 22-30/7/1954, có 4.000 lính đào ngũ, trong đó chỉ riêng ngày 27/7 có 1.000 lính đào ngũ.

2. Trại lính Erulin nằm giữa Lục Nam và Phủ Lạng Thương, cách Hà Nội 40 km về phía Đông Bắc.

Ngọc Nhàn (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)