05:28 PM 20/11/2020  |   Lượt xem: 150  | 

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của ông nghè Đông Tác thật lắm lận đận trong khoa cử cũng như quan trường, nhưng ông vẫn luôn dành tâm sức của mình để cống hiến và phục vụ triều đình, đóng góp cho văn hóa Thăng Long, đặc biệt là hết lòng vì giáo dục, đào tạo nhân tài.

Thăng Long vốn nổi danh là vùng đất khoa bảng, là đất của những “danh sĩ Bắc Hà”. Sang thế kỉ XIX, dù Thăng Long không còn chốn đế đô nhưng những bậc danh sĩ, người hào kiệt chưa bao giờ vắng. Trong số các bậc danh sĩ ấy có người là đại quan, nhưng lại có những người chỉ muốn chuyên tâm với sự nghiệp giáo dục “trồng người”. Ông nghè Đông tác Nguyễn Văn Lý (1795 -1868) chính là một bậc thầy uyên thâm, nổi tiếng đất Thăng Long thời bấy giờ.

Nguyễn Văn Lý tự là Tuần Phủ, hiệu Chí Đình, biệt hiệu Đông Khê, là người làng Đông Tác, huyện Vĩnh Thuận (nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa). Sinh ra trong một gia đình có truyền thống học hành nên ngay từ nhỏ Nguyễn Văn Lý đã có chí học hành. Tuy nhiên, con đường khoa cử của ông khá lận đận. Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), Nguyễn Văn Lý 31 tuổi mới đỗ Cử nhân tại khoa thi Hương năm Ất Dậu này. Theo Đại Nam thực lục thì Nguyễn Văn Lý là một trong 28 người được lấy đỗ tại trường thi Bắc thành (cùng với Nguyễn Văn Siêu). Tuy nhiên, đến kì thi Hội, ông thi hỏng liền hai khóa năm Bính Tuất (1826) và Kỷ Sửu (1829).

Tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 13 (1822), ông được lấy đỗ trúng cách trong khoa thi Hội. Chính sử chép: “8 người trúng cách: Đỗ Quang, Phan Trước, Nguyễn Toản, Vũ Công Độ, Phạm Bá Thiều, Nguyễn Văn Lý, Phạm Sĩ Ái và Phạm Gia Chuyên”(1). Tháng 5 năm đó thi Đình ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (ông nghè). Sau đó, ông được bổ làm Tri phủ phủ Thuận An tỉnh Bắc Ninh.

Khi đang giữ chức Tri phủ ở phủ Thuận An tỉnh Bắc Ninh thì tù phạm bị giam trong phủ đã phá ngục bỏ trốn. Bản tấu ngày 7 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) của Bộ Hình cho biết: “Tù phạm ở phủ Thuận An vượt ngục... Nay xét tập trình thấy nhà giam ở phủ của tỉnh ấy còn dám xem thường, cho phép người thân của tù phạm lui tới, bảo nhau làm điều đen tối. Phạm nhân chạy trốn là Tổng Mật, Tổng Phiên cùng bè đảng âm mưu bức phủ thành phá ngục chạy trốn thì các viên cai ngục đã quá xem thường... Nghĩ rằng cai ngục Trương Văn Chuẩn, xin hãy cách chức Cai đội, đồng thời cùng với các tên lính canh ngục đem giao cho hai ty Bố chánh và Án sát tra xét rồi tâu trình. Quyền nhiếp Quản phủ Phạm Văn Đức, Tri phủ Nguyễn Văn Lý tuy đi vắng do việc công và huyện thừa huyện Siêu Loại Lại Thế Quán hàng ngày không nhắc nhở nghiêm khắc nên cũng khó tránh tội, xin xét theo luật tội "bất ứng" và giáng 2 cấp lưu nhiệm”(2).

Sự việc này cũng được chép lại trong Đại Nam thực lục như sau: “Tù phạm phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh phá ngục. Binh dịch thuộc phủ ấy cố sức vây bắt hơn 20 phạm nhân hoặc chém, hoặc bắt, không sót một tên nào. Việc ấy tâu lên, vua sai thưởng cho binh dịch 300 quan tiền. Điển ngục Cai đội Trương Văn Chuẩn phải cách chức, ngục tốt phải phạt trượng, quyền nhiếp quản phủ Phạm Văn Đức và Tri phủ Nguyễn Văn Lý vì đi việc quan vắng, đều phải giáng một cấp”(3).

Đối chiếu giữa sử liệu Châu bản triều Nguyễn và chính sử Đại Nam thực lục thì các thông tin tương đối đồng nhất. Tuy nhiên, về việc Tri phủ Nguyễn Văn Lý bị giáng cấp thì sử liệu ghi là “giáng hai cấp” còn chính sử chép “giáng một cấp”. Rất có thể trong quá trình gia ân thì các quan viên liên quan trong vụ án đã khoan giảm bớt và chính sử ghi lại theo bản kết án cuối cùng.

Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), Nguyễn Văn Lý được bổ làm Lang trung Bộ Lại. Thời gian giữ chức Lang trung, ông từng tham gia kiểm duyệt quyển thi trong kì thi Điện (còn gọi là thi Đình) năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). Việc này được ghi lại trong Đại Nam thực lục như sau: “Thi Điện: Sai Đô đốc thự Chưởng phủ là Phạm Hữu Tâm sung chức giám thí đại thần, Hiệp biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế, Thượng thư Công bộ Hà Duy Phiên sung chức độc quyển, Lang trung Lại bộ Nguyễn Văn Lý, Lang trung Công bộ Đỗ Quang sung chức nhận quyển kiêm duyệt quyển”(4). Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), ông được đổi bổ làm Lang trung Bộ Hình.

Sau đó không bao lâu ông được cử đi làm Án sát tỉnh Phú Yên. Trong bản tấu ngày ngày 16 tháng 2 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), Nguyễn Văn Lý trình bày: “Ngày 25 tháng giêng năm nay vâng được thượng dụ: truyền cho thần được điều đến và bổ làm Án sát Phú Yên”(5).

Bản tấu ngày 16 tháng 2 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) của Nguyễn Văn Lý về việc đã nhận chức Án sát tỉnh Phú Yên. Nguồn: Châu bản triều Nguyễn, TTLTQGI.

Ngay sau nhận chức, ông được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Gia Định. Chính sử chép: “Cử Án sát tỉnh Phú Yên là Nguyễn Văn Lý sung làm Chủ khảo trường Gia Định”(6).

Tuy nhiên, thời gian làm Án sát ở tỉnh Phú Yên cũng là thời kì sự nghiệp quan trường của ông lận đận nhất. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), ông liên quan tới vụ án tên lái buôn gian dối Hoàng Văn Lộc nên bị giáng cấp. Sau đó, nhờ ân đại xá ông được khai phục chức Điển bạ. Vài năm sau đó ông bị bệnh phải về quê điều trị. Trong bản tấu ngày ngày 21 tháng 7 năm Tự Đức thứ 2 (1849) của Lãnh Tổng đốc Hà - Ninh Lê Văn Phú nhắc đến: “Lại ngày các tháng 7 và 9 năm ngoái nhận được tư văn của bộ Lại nói: Hành tẩu cử nhân thuộc bộ đó là Bùi Huy Côn, Nguyễn Văn Khanh và Điển bạ Viện Hàn lâm Nguyễn Văn Lý đều bị bệnh, đã cấp giấy về quê tại tỉnh thần để chữa trị, ngày nào hạn hết thì cấp giấy cho các viên đó tựu chức”(7). Sau đó, ông được chỉ cho về hưu.

Thực tế, thời gian này, ông mở trường Chí Đình dạy học đào tạo nhân tài. Ông là người có tài văn chương nên học trò theo học ông rất đông. Đại Nam liệt truyện viết về ông như sau: “việc học rất ngay thẳng, trọng đạo lại trung thực và thơ văn chuộng về ý cách”.

Ông là người hay chữ, học trò nhiều người kính mến nên sau đó ông được vua Tự Đức thăng làm lãnh Giáo thụ phủ Thường Tín. Năm Tự Đức thứ 12 (1858), ông được thực thụ chức này. Trong bản tấu ngày 14 tháng 3 năm Tự Đức thứ 12 (1858) của Bộ Lại về việc sát hạch học quan cho biết số sĩ tử theo học ông có tới hơn 300 người. Vì vậy, Bộ Lại đề nghị: “Bộ thần xét Lãnh giáo thụ Nguyễn Văn Lý và Giáo thụ Phạm Đình Thông tỉnh ấy nghĩ xếp Nguyễn Văn Lý là hạng ưu, Phạm Đình Thông hạng thứ là hợp lệ. Chỉ có Lãnh đốc học Hoàng Đình Chuyên nên xếp hạng ưu, Huấn đạo Hoàng Nghĩa nên xếp hạng thứ. Nguyễn Văn Lý tỉnh ấy xét là có văn học xem được, sĩ tử phần lớn tin theo nên xét theo lệ bổ thực thụ Giáo thụ phủ ấy”(8). Đề nghị này của Bộ Lại đã được vua Tự Đức đích thân châu điểm đồng ý.

Sau đó, vào cuối năm Tự Đức thứ 12 (1858), Bộ Lại tiếp tục dâng tấu xin thăng thụ ông làm Đốc học tỉnh Hưng Yên. Bản tấu viết: “Xin Nguyễn Văn Lý được thăng thụ Trước tác lãnh Đốc học Hưng Yên. Vâng theo châu điểm lại được châu phê, bộ thần xin cung nghĩ phụng chỉ: Doãn Khuê đổi Thự Thị độc Viện Hàn lâm quyền lãnh Đốc học tỉnh Nam Định; Nguyễn Văn Lý nguyên lãnh Giáo thụ thăng ngay Tu soạn Viện Hàn lâm lãnh Đốc học tỉnh Hưng Yên”(9).

Như vậy, từ sau khi về Hà Nội mở trường học Chí Đình, ông nghè Đông tác đã gắn bó với nghề “trồng người” tới cuối đời. Theo Đại Nam liệt truyện thì trước sau ông đã “giảng học được 20 năm có lẻ, người tới học thành tựu cũng nhiều”.

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của ông nghè Đông Tác thật lắm lận đận trong khoa cử cũng như quan trường, nhưng ông vẫn luôn dành tâm sức của mình để cống hiến và phục vụ triều đình, đóng góp cho văn hóa Thăng Long, đặc biệt là hết lòng vì giáo dục, đào tạo nhân tài. Trong sự nghiệp giáo dục của mình ông đã đào tạo được nhiều học trò xuất sắc, đáng nói nhất là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp người Kim Lũ làm đến Thượng thư Bộ Lại, Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Phụ chính vua Thành Thái… Những người học trò của ông đều rất mực biết ơn và kính trọng thầy. Vì vậy, khi ông mất, học trò đến viếng rất đông. Thạm chí, thì hài của ông phải quàn tại nhà cả tháng để học trò các nơi đến viếng và bày tỏ lòng thương tiếc.

Hơn 20 năm giảng dạy, Đốc học Nguyễn Văn Lý không chỉ là một người thầy nhiệt tâm, là “bậc văn học kỳ cựu”, là người trọng đạo và trung thực mà đó thực sự là “vàng ẩn trong cát”. Với sự nghiệp giáo dục của mình, ông nghè Đông Tác mãi mãi là tấm gương sáng về người thầy đất Thăng Long và đáng để hậu thế nghiêng mình kính cẩn.

--------------------

Chú thích:

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.299.

(2) TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 48, tờ 11.

(3) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.836.

(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 5, tr.334.

(5) TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 02, tờ 174.

(6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 6, tr.116.

(7) TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 17, tờ 303.

(8) TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 103, tờ 201.

(9) TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 116, tờ 194.

 

Nguyễn Hường