08:59 AM 22/07/2021  |   Lượt xem: 331  | 

Cả cuộc đời tham gia cách mạng, bất luận trong hoàn cảnh nào, ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không màng danh lợi, hy sinh tất thảy cho cách mạng.

Hồ Tùng Mậu tên thật là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896, quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông là người sớm có lòng yêu nước, căm thù giặc. Từ năm 1920 ông đã hoạt động ở Lào, Thái Lan, Trung Quốc. Năm 1925, ông tham dự khóa huấn luyện ở Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, rồi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Năm 1927, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu rồi bị bắt giam. Cuối năm 1929, ông được ra tù và tích cực tham gia những hoạt động cách mạng. Ông là một trong những người đã góp sức vào việc tổ chức hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ngày 3/2/1930, nhưng ngay sau đó ông bị giới cầm quyền Hương Cảng bắt giao cho Pháp. Trải qua quãng thời gian dài 14 năm (1931-1944), ông bị thực dân Pháp giam cầm và di chuyển qua nhiều nhà lao đế quốc. Mặc dù bị giam cầm, bị tra tấn cực hình, ông vẫn lạc quan yêu đời và sáng tác nhiều bài thơ để động viên, khích lệ tinh thần cách mạng, giữ vững ý chí chiến đấu của những người tù chính trị. Tháng 3/1945 khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, ông cùng đồng đội vượt ngục và tiếp tục làm cách mạng, tham gia cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách. Từ tháng 10/1945 đến năm 1947, ông được cử làm Giám đốc kiêm Chính ủy Trường quân chính Trung bộ. Ngày 25/01/1948, ông được Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 128/SL chính thức công nhận làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu 4, đồng thời được bầu làm Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy. Ngày 18/12/1949, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 138C/SL cử giữ chức Tổng Thanh tra Chính phủ. Đầu năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thành lập "Hội Việt- Hoa hữu nghị", ông được bầu là Hội trưởng. Ngày 23/7/1951, trên đường đi công tác ở Thanh Hóa, ông đã bị máy bay địch phát hiện, đuổi bắn và hy sinh tại thị trấn Còng, huyện Tĩnh Gia. Sau khi ông hy sinh, ngày 27/8/1951, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 50/SL tặng Huân chương Hồ Chí Minh hạng Ba.

Nội dung Sắc lệnh 50/SL ghi rõ: “Nay tặng Huân chương Hồ Chí Mịnh hạng Ba cho cụ Hồ Tùng Mậu - Tổng Thanh tra Chính phủ, một nhà cách mạng lão thành, một đời tranh đấu cho Tổ quốc, cho nhân dân. Thời Pháp thuộc: Khi ở trong nước, khi ở nước ngoài, khi bị tù đày, một lòng sắt đá đấu tranh và lãnh đạo đấu tranh chống đế quốc. Hồi tổng khởi nghĩa: Tham gia đắc lực vào việc giành và thành lập chính quyền. Từ ngày toàn quốc kháng chiến: Giữ chức Chủ tịch UBKCHC Liên khu 4, sau đó nhận nhiệm vụ Tổng thanh tra Chính phủ, đã đạt nhiều thành tích trong việc thi hành chính sách Cần Kiệm Liêm Chính và Biên chế của Chính phủ”.

Để ghi nhận công lao của Hồ Tùng Mậu đối với Tổ quốc và quê hương, ngày 11/02/2000, Nhà thờ và phần mộ của ông tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử Văn hóa. Tên của ông được lấy để đặt tên trường học, đường phố ở Nghệ An, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minhh. Ngày 18/01/2008, Ông được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định truy tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm 74 năm ngày Thương binh liệt sĩ, 70 năm ngày hy sinh của Hồ Tùng Mậu, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III xin giới thiệu một số tài liệu về ông đang được bảo quản tại Trung tâm, phông Phủ Thủ tướng, Mục lục 1 (giai đoạn 1945-1975) để thay lời tri ân.

Sắc lệnh số 128/SL ngày 25/01/1948 do Chủ tịch nước VNDCCH
ban hành v/v chính thức công nhận ông Hồ Tùng Mậu làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu 4(1).

 

Sắc lệnh 138C/SL ngày 18/12/1949 do Chủ tịch nước VNDCCH 
ban hành v/v cử cụ Hồ Tùng Mậu giữ chức Tổng Thanh tra Chính phủ(2).

 

Sắc lệnh số 50/SL ngày 27/8/1951 do Chủ tịch nước VNDCCH
 ban hành v/v tặng Huân chương Hồ Chí Minh hạng Ba cho cụ Hồ Tùng Mậu(3).

 

Chú thích:
1.  Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, Mục lục 1, hồ sơ 06.
2.  Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, Mục lục 1, hồ sơ 08
3.  Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, Mục lục 1, hồ sơ 11.

Phạm Ngọc Diệp (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)