03:03 PM 25/01/2019  |   Lượt xem: 171  | 

Nhân kỷ niệm 89 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2019), cùng nhìn lại đời sống của tù nhân tại trại giam nhà tù Bà Rá được phản ánh khá chân thực trong các trang tài liệu lưu trữ.

      Địa danh Núi Bà Rá thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay gắn liền với chứng tích đau thương của hàng trăm chiến sĩ cách mạng bị giam cầm và giết hại trong thời kỳ thuộc địa Pháp. Thực dân Pháp đã cho xây dựng ở nơi “rừng thiêng nước độc” ấy một trại giam lớn cho cả nam và nữ có đủ hạng “tội phạm” được phân loại từ các phiên xử án hoặc thậm chí không cần xử. Với số lượng tù nhân ngày càng gia tăng, đời sống trong cái gọi là “trại Lao động đặc biệt” ấy diễn ra như thế nào, để thấy sự khác biệt giữa tù nhân và cuộc sống của tầng lớp quản tù trong cùng một không gian sống.

      Tính tới thời điểm tháng 8 năm 1941, số lượng tù nhân ở trại Lao động đặc biệt Núi Bà Rá là 881 người, cộng với số quan quản lý và quản tù hơn 100 người (1). Điều đó cho thấy trại giam Núi Bà Rá có sức chứa 1000 người.

     Công việc hàng ngày của các tù nhân có sự khác biệt giữa trại A và trại C. Tù thường phạm ở trại A nhận được ưu ái hơn khi “được sử dụng làm việc tại quận” (2) là các việc trong lĩnh vực khai thác công nghiệp, nông nghiệp của quận và những việc lặt vặt khác. Năm 1942, trại A có 528 tù thường phạm được phân bổ công việc như sau: “376 tù nhân được sử dụng làm lao dịch bên trong và bên ngoài trại. 86 người nằm dưới sự quản lý của các kiều dân định cư dọc theo đường Sông Bé. 66 người làm việc tại Trung tâm Bà Rá, như làm than, làm gạch, thợ mộc, thợ nề, chăn bò,…”(3). Tù chính trị giam ở trại C là đối tượng bị quản lý chặt chẽ hơn vì “mức độ nguy hiểm của họ”, phải làm các công việc nặng nhọc tại các đồn điền hoặc “đi khai khẩn các khu đất ven đường từ Núi Bà Rá đến các thác ở Sông Bé và gần trại C dưới sự kiểm soát của các lính canh người Âu, người Pháp và Ấn” (4). Công văn ngày 26/6/1942 cho biết thêm thông tin về trại giam tù chính trị: “Tù nhân được dùng để làm các công việc lao dịch trong trại và ở quận. 67 người được giao cho các kiều dân quản lý – như là người trông coi nông trại. 18 người làm công việc xẻ gỗ, 12 làm thợ mộc, 25 người gánh nước, 18 người đốn củi và đốt than, và 22 người nấu ăn và chăn bò” (5), còn các nữ tù nhân giam ở trại B thường “làm công việc bếp núc và may vá. Một xưởng may cũng đã được thành lập trong quận. Hiện đang có 12 phụ nữ làm việc tại xưởng này. Họ may trang phục cho nhân sự và các tù nhân” (6). Báo cáo ngày 26/6/1942 cho biết thêm về công việc của nữ phạm nhân trại B: “Tù nhân nữ tại trại này chủ yếu làm các việc sửa quần áo cho các lao động, các kiều dân, và các học sinh tại trường dân tộc. Một đội lao động tại chuồng heo, một đội khác làm việc tại đồn điền cà phê. Một số làm mái lá, đan phên” (7). Thành phẩm lao động của tù nhân ở đây không chỉ để nuôi sống họ mà còn nuôi tầng lớp quản tù nhàn hạ. Thậm chí tù nhân còn bị bóc lột sức lao động để phục việc cho các quan chức trong quận và vì tư lợi. Tù nhân tại trại giam Núi Bà Rá bị phân loại để có thể khai thác triệt để sức lao động của họ. Ngày 23/9/1944, Thống đốc Nam Kỳ Hoeffel gửi công văn cho Chánh tham biện, Chủ tỉnh Biên Hòa và Trưởng Sở Cảnh sát địa phương – Sài Gòn nêu giải pháp là “chuyển những tù nhân đang trong thời gian cải tạo nhưng không có khả năng lao động đến trại lao động đặc biệt ở Tây Ninh” (8). Và chính Chánh tham biện, Chủ tỉnh Biên Hòa Larivière nhận thấy “chỉ để tù nhân làm việc ở trong trại cũng rất lãng phí và nguy hiểm” và cách hay nhất để quản lý và khai thác sức lao động của họ là “tách chúng ra thành từng nhóm nhỏ, để giảm nguy cơ chúng liên kết, thông đồng với nhau”. Ngay cả trong khi lao động, họ cũng bị giám sát bởi ba lớp: “công việc giám sát này không chỉ của riêng các hiến binh và nhân viên, mà còn là trách nhiệm của các lính canh đồn điền”.

     Tù nhân Núi Bà Rá lao động chân tay nặng nhọc trong điều kiện không có bảo hộ vì thế những cái chết vì tai nạn thường xuyên diễn ra. Hơn thế nữa, họ không được ăn uống tử tế. Mỗi ngày họ được ăn ba bữa sáng, trưa, tối nhưng thức ăn không được “chuẩn bị kỹ”, thức ăn kém vệ sinh, không được nấu chín đúng độ và cơm còn sống. Nước được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày kể cả ăn uống được lấy trực tiếp từ suối hoặc từ giếng đào. Thức ăn chính của mỗi bữa ăn là bắp (ngô), khoai mì, và một số loại rau…đây là những thực phẩm được trồng tại núi Bà Rá hoặc xen canh trong một số ít đồn điền. Nhưng thực phẩm này không đủ để cung cấp cho số lượng gần 1000 người trong trại giam Bà Rá (gồm cả tù nhân và cai ngục). Vì thế, thức ăn của họ còn được cung cấp bởi một nguồn tiếp tế từ Biên Hòa hay Sài Gòn lên do ngân sách thuộc địa đài thọ. Ngày 8/6/1942, Đổng lý Văn phòng gửi công văn cho Chánh tham biện, Chủ tỉnh Biên Hòa về việc tiếp tế cho trại giam Bà Rá “Vì tình hình hiện nay, cần giảm tối thiểu việc sử dụng xe tải của địa phương; tôi dự tính vận chuyển thực phẩm lâu hư đến trại Núi Bà Rá bằng đường sắt, như: gạo, cá khô, nước mắm, mỡ heo, khoảng 5 tấn/tuần. Việc vận chuyển từ Lộc Ninh đến Núi Bà Rá sẽ được đảm bảo bằng xe bò” (9). Là một nguồn thực phẩm chủ đạo trong bữa ăn của tù nhân nhưng việc tiếp tế rất hạn chế: “Khoảng cách từ Lộc Ninh đến Bà Rá, theo Quốc lộ 1, 14 và 13, là khoảng 80 km. Xe bò có thể chở được 400 kg hàng, với khoảng cách này phải mất 3 ngày, 3 đêm. Sau một ngày nghỉ ngơi ở Bà Rá, xe lại quay về Lộc Ninh cũng cùng thời gian như lúc đi. Do vậy, xe bò đi lại hai chặng đường này mất 1 tuần. Để vận chuyển 5 tấn hàng, thì ít nhất phải cần đến 12 xe bò” (10). Điều đáng nói là thực phẩm tiếp tế thường bị đánh tráo một cách trắng trợn:

        “Tôi lưu ý rằng, về vấn đề thực phẩm, thứ 2 ngày 6/7 vừa qua, khi tôi ở Bà rá, Tôi đã chủ trì Ban tiếp nhận thực phẩm được gửi từ địa phương.

         Một số lời xác nhận đã được ghi lại vào trong biên bản như sau:

       1/ Rau “tươi” hoàn toàn bị hư hỉng

       2/ Trà được thay bằng lá me xay nhuyễn

       3/ Cá biển vụn nát.

        Tôi đã đề nghị địa phương phải lưu ý để tránh đánh tráo thực phẩm trong lúc Ủy ban Sài Gòn tiếp nhận và đưa đến Bà rá./.

Ký tên: Larivière” (11)

      Tuy Chánh tham biện, Chủ tỉnh Biên Hòa có đề xướng với Thống đốc Nam Kỳ về việc phát triển trồng trọt và chăn nuôi tại trại Bà Rá để có thể tự chủ về lương thực, thực phẩm tại đây, nhưng cũng phải thừa nhận rằng “dân số ở đây không ngừng tăng lên, vì có nhiều tù nhân mới cũng như hàng trăm cu li đến làm việc tại các đồn điền. Việc sản xuất thực phẩm còn lâu mới đáp ứng được nhu cầu” (12). Vì thế, ông cũng phải chấp nhận thất bại: “Sau một năm rưỡi nỗ lực không ngừng khai hoang vùng đất này, với mục đích mang lại một hy vọng tươi đẹp nhất, thì hiện giờ công trình đã bị tàn phá bởi sự quay lại của đám cỏ hoang. Công trình do các kiều dân Pháp thực hiện, với sự hỗ trợ của số nhân công tù nhân này, chắc sẽ phải bỏ hoang” (13). Do vậy, đời sống “cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm” của các tù nhân ở nhà tù Bà Rá là điều rất dễ hiểu. Mãi cho tới năm 1941, Thanh tra Nha Chính trị - Hành chính và Lao động có đề xuất với Thống đốc Nam Kỳ rằng “cần phải có một kho chứa lương thực phòng trường hợp đói kém, mất mùa xảy ra. Kho này có thể chứa vài con heo sống hay hai ba trăm hộp thịt hộp” (14). Nhưng đề xuất này mãi tới năm 1944 vẫn không được thực hiện vì tiếp tế thức ăn hàng ngày còn không đủ thì không thể có hàng để dự trữ.

     Trong khi nhân viên và các hiến binh quản tù được ăn thức ăn nấu kỹ, có mền ngủ chống muỗi và được phát thuốc kí ninh để phòng sốt rét thì tù nhân tại các trại giam đều không được. Họ ăn đói, ngủ trần và tự chống chọi với bệnh tật: sốt rét hoành hành, kiết lị, tiêu chảy vì ăn bẩn, lao phổi vì lạnh, thiếu thuốc, kiệt sức vì thiếu ăn, bị đánh đập và lao động nặng. Trại lao động đặc biệt Núi Bà Rá đáng sợ đến nỗi mà việc tù nhân được ra khỏi trại này là một “ân huệ” và cải tạo tốt để thoát khỏi chốn “rừng thiêng nước độc” ấy là “một phần thưởng”: “những tù chính trị ít nguy hiểm và có đạo đức sẽ được chuyển ra các trại lao động ở Rạch Giá và Bạc Liêu, nơi có môi trường y tế tốt hơn. Đây có thể được xem như là một phần thưởng cho tù nhân cải tạo tốt” (15).

     Môi trường sống chung kém vệ sinh, các trại giam không có hoặc không đủ phòng cách ly bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm nên tình trạng dịch bệnh bùng phát thường xuyên. Điều đáng nói là nhà vệ sinh và nhà tắm thiếu trầm trọng so với sức chứa của nhà giam, chẳng hạn ở trại A, mỗi dãy nhà giam chỉ có một nhà tắm. Các gian nhà giam nhỏ, chật, thấp vì thế mùa mưa thì ẩm ướt, mùa nắng thì nóng nực.

     Điều kiện sống của tù nhân tại trại giam Bà Rá thấp quá mức và thường xuyên bị đánh đập bởi nhân viên, lính canh, hiến binh nên ngày nào cũng có người bỏ mạng nơi đây. Bác sĩ Chỉ huy trưởng Kirsche thừa nhận trong báo cáo là tình hình bệnh tật, nhất là các bệnh truyền nhiễm rất nghiêm trọng và mấy ngày ông ở trại đã có hai người chết. Trong các giấy báo tử, hầu như tuần nào cũng có người chết và người nằm tại trạm y tế trại thì la liệt.

    Đối lập với cuộc sống của tù nhân những người quản tù ở sống trong môi trường xa trung tâm tỉnh Biên Hòa, khá thiếu thốn do điều kiện tiếp tế kém, nhưng vẫn là đối tượng được ưu ái và sống khá sung túc: Thuốc men, ăn uống, ngủ nghỉ đều được ưu tiên; được hưởng các thực phẩm tốt, mới, và thuốc men, chỉ làm những công việc nhẹ nhàng… Các hiến binh đều được trả lương hậu hĩnh. Những quân nhân phục vụ là người Pháp và Âu đều được hậu đãi. Các nhân viên là người Việt kém phần hơn một chút nhưng họ vẫn được trả công. Tài liệu còn lưu trữ cho thấy bảng tiền công của những nhân viên làm tại Trại giam Bà Rá như sau:

 

Bảng kê tiền lương của nhân viên làm việc tại Trại lao động đặc biệt Núi Bà Rá (16).

 

     Đời sống tại Trại giam nhà tù Bà Rá được phản ánh khá chân thực trong các trang tài liệu lưu trữ dưới dạng công văn, báo cáo, nghị định, sắc lệnh. Đó là đời sống thường nhật của tù nhân. Qua bối cảnh sống ấy, mới thấy sức mạnh yêu nước và tinh thần cách mạng của những chiến sĩ yêu nước tại trại lao động đặc biệt Núi Bà Rá./.

Chú thích:

1. Hồ sơ 17192, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

2. Hồ sơ 17286, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

3. Hồ sơ 50513, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

4. Hồ sơ 17286, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

5. Hồ sơ 50513, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

6. Hồ sơ 17286, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

7. Hồ sơ 50513, phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

8. Hồ sơ 17192, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

9. Hồ sơ 18959, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

10. Hồ sơ 18959, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

11. Hồ sơ 50513, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

12. Hồ sơ 18959, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

13. Hồ sơ 18959, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

14. Hồ sơ 17286, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

15. Hồ sơ 17192, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

16. Hồ sơ 59254, phông Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

Trần Thị Vui - Trung tâm Lưu trữ quốc gia II