03:19 PM 30/12/2020  |   Lượt xem: 109  | 

Sắc lệnh số 73 ngày 7/12/1945 đã thể hiện đầy đủ các quy định như điều kiện, cách thức xin nhập quốc tịch Việt Nam của người ngoại quốc và quyền lợi, nghĩa vụ của người đã nhập quốc tịch Việt Nam.

    Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia có chủ quyền. Nếu một người có quốc tịch của một quốc gia thì người đó được gọi là công dân của quốc gia đó [1]. Pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ đã có những quy định cụ thể về điều kiện và thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam.

    Ngay sau khi đất nước ta giành được độc lập năm 1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quan tâm đến vấn đề quốc tịch Việt Nam cũng như việc nhập quốc tịch Việt Nam cho người ngoại quốc để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Khí đó, trên đất nước ta có nhiều người ngoại quốc đã ở lâu năm và đã sống như người dân Việt Nam. Hơn nữa, một số đông những người ấy đã tự ý tỏ lòng trung thành với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đã yêu cầu muốn được giự vào cuộc tổng tuyển cử [2]. Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thảo luận, ngày mồng 7/12/1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 73 quy định về điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam của người ngoại quốc.

 

Sắc lệnh số 73 ngày 7/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quy định về điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam của người ngoại quốc.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 01, tờ 122.

    Sắc lệnh gồm 06 Điều ngắn gọn chỉ trong một trang giấy nhưng đã thể hiện đầy đủ các quy định như điều kiện, cách thức xin nhập quốc tịch Việt Nam của người ngoại quốc và quyền lợi, nghĩa vụ của người đã nhập quốc tịch Việt Nam. Điều I của Sắc lệnh ghi rõ những điều kiện cần phái có khi người ngoại quốc muốn nhập quốc tịch Việt Nam:

    1- Đủ 18 tuổi.

    2- Đã ở 10 năm trên đất nước Việt Nam.

    3- Có trú quán nhất định trong nước Việt Nam.

    4- Biết tiếng nói Việt Nam.

    5- Có hạnh kiểm tốt.

    6- Nếu có vợ chồng là người ngoại quốc thì phải được người vợ hay chồng thoả thuận cho nhập quốc tịch Việt Nam [3].

    Còn đối với những con vị thành niên của người nhập quốc tịch Việt Nam thì việc cùng được hưởng quốc tịch Việt Nam với người ấy là “tự nhiên”.

    Cách thức xin gia nhập quốc tịch Việt Nam gồm 04 bước như sau:

    Bước 1: Người xin phải đệ đơn lên Uỷ ban nhân dân tại tỉnh nơi mình ở.

    Bước 2: Uỷ ban tỉnh sẽ điều tra và cho ý kiến rồi tư lên Uỷ ban kỳ.

    Bước 3: Uỷ ban kỳ phê ý kiến rồi đệ lên Bộ Tư pháp xét.

    Bước 4: Khi đơn được Bộ Tư pháp chấp nhận thì một Sắc lệnh sẽ cho người xin được nhập quốc tịch Việt Nam.

    Về quyền lợi và nghĩa vụ, người đã nhập quốc tịch Việt Nam được hưởng đủ quyền lợi và phải chịu tất cả nhiệm vụ của một công dân Việt Nam. Theo Sắc lệnh này, vì giao thông khó khăn, nên những người nào xin nhập quốc tịch Việt Nam mà được Uỷ ban nhân dân tỉnh mà có đủ điều kiện và ưng nhận, thì được hưởng ngay quyền bầu cử và ứng cử, không phải chờ sắc lệnh cho nhập quốc tịch Việt Nam.

    Những điều kiện trên đã thay đổi theo từng thời kỳ, hiện nay, theo Nghị định 16/2020/NĐ-CP ban hành ngày 3/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 20/3/2020 có quy định một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam gồm [4]:

    1- Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam là khả năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt phù hợp với môi trường sống và làm việc của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.

    2- Người xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam phải là người đang thường trú tại Việt Nam và đã được Cơ quan công an có thẩm quyền của Việt Nam cấp Thẻ thường trú.

    Thời gian thường trú tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được tính từ ngày người đó được cấp Thẻ thường trú.

    3- Khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

    So với điều kiện nhập quốc tịch của người ngoại quốc theo Sắc lệnh số 73 ngày 7/12/1945 thì các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam đã quy định rõ hơn và chặt chẽ hơn về biết tiếng Việt đủ là như thế nào và Nghị định này cũng quy định rõ về khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam.

    Như vậy, Sắc lệnh số 73 ngày 7/12/1945 là Sắc lệnh đầu tiên của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quy định về điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam của người ngoại quốc. Đây là một trong những chính sách tiến bộ trong tiến trình mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước lúc bấy giờ. Sắc lệnh có chữ ký của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh. Bản gốc của Sắc lệnh được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 01, tờ 122.

--------------------

Chú thích:

1. https://luatminhgia.com.vn/hoi-dap-dan-su/dieu-kien-va-thu-tuc-nhap-quoc-tich-viet-nam.aspx

2.Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 01, tờ 122.

3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 01, tờ 122.

4. http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Chinh-sach-moi-co-hieu-luc-tu-thang-32020/388925.vgp.

Trần Thị Hoàn (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)