09:21 AM 07/07/2020  |   Lượt xem: 261  | 

Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống lực lượng Thanh niên xung phong (15/7/1950 - 15/7/2020) và 73 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2020), Cổng thông tin điện tử Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước xin trân trọng giới thiệu di tích lịch sử cách mạng hang Co Phương - nơi ghi lại dấu ấn oai hùng của lực lượng thanh niên xung phong và cũng là nơi 11 dân công hỏa tuyến đã hy sinh vì Tổ quốc ngày 02/4/1953.

    Hang Co Phương còn có tên khác là Co Phường thuộc bản Sại, xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Theo tiếng Thái thì Co Phương tức là cây Khế. Vì vậy, hang Co Phương còn gọi là hang cây Khế. Đây là tên gọi theo tiếng địa phương và cũng là tên gọi duy nhất của di tích.

    Về hành chính: Thời thuộc Hán, Quan Hóa là miền đất cực tây của huyện Đô Lung. Thời Tề đổi Đô Lung thành Cát Lung. Từ thời Đường đến Đinh, Lê, Lý thuộc huyện Tường Lâm. Thời Lê, Quan Hóa thuộc châu Quan Da (bởi có Mường Ca Da) thuộc phủ Thanh Đô. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) châu Tàm hợp với châu Quan Da lập ra châu Quan Hóa. Sau Cách mạng Tháng Tám - 1945, châu Quan Hóa đổi thành huyện Quan Hóa với 32 xã và 1 thị trấn.

    Đầu năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta chuyển sang giai đoạn mới, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện để chuyển sang tổng phản công. Nhân dân Thanh Hóa cùng nhân dân cả nước thi đua chuẩn bị sức người, sức của để phục vụ kháng chiến theo lời kêu gọi của Bác.

Dân công xe thồ Thanh Hóa chuẩn bị lên đường phục vụ tiền tuyến, năm 1954.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Tài liệu ảnh phông Bộ Ngoại giao, SLT 3181.

    Tháng 12/1952, sau thất bại ở Tây Bắc, thực dân Pháp tăng cường phòng thủ Thượng Lào với âm mưu là biến Thượng Lào thành khu vực mạnh, nhằm ngăn chặn sự phối hợp hoạt động giữa Việt Nam và Lào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời khống chế cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Lào để tạo thế uy hiếp thường xuyên vùng phía Tây, hậu phương Thanh - Nghệ của ta. Thực hiện âm mưu đó, thực dân Pháp đã điều quân và huy động phương tiện xây dựng thị xã Sầm Nưa (Lào) thành một cứ điểm quân sự của Pháp ở miền Bắc Đông Dương.

    Để phá tan âm mưu của địch, đưa cuộc kháng chiến của hai dân tộc tiếp tục tiến lên, đầu năm 1953, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam đã cùng với Chính phủ Lào thống nhất đưa quân tình nguyện Việt Nam sang phối hợp với quân giải phóng Lào mở chiến dịch Thượng Lào. Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh là ba tỉnh được giao trách nhiệm phục vụ chiến dịch Thượng Lào. Trong đó, Thanh Hóa được xác định là hậu phương quan trọng nhất của chiến dịch.

    Đầu năm 1953, liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Thượng Lào, Ban dân công tỉnh, Hội đồng cung cấp Mặt trận tỉnh cùng Ty Công chính Thanh Hóa tổ chức tốt việc nhận hàng của Hội đồng cung cấp tiền phương ở kho Cẩm Thủy và kho Lược (Thọ Xuân) để vận chuyển ra tiền tuyến. Trên các tuyến vận chuyển phục vụ chiến dịch Thượng Lào, Chi cục Tiếp tế Vận tải Thanh Hóa và Bộ Tư lệnh khu X phối hợp với tổ chức các kho, trạm tiếp vận (do Hội đồng cung cấp Trung ương trực tiếp chỉ đạo, việc trông coi được giao cho thanh niên xung phong (TNXP) và chính quyền địa phương quản lý việc tổ chức các trạm, phù hợp với địa hình từng cung đường, chặng đường để đạt hiệu quả vận chuyển cao nhất.

    Mặc dù địa thế hiểm trở, núi rừng trùng điệp, khí hậu khắc nghiệt, đường vận chuyển khó khăn, đèo núi cheo leo nhưng lực lượng giao thông vận tải, TNXP Thanh Hóa vẫn luôn nêu cao tinh thần “Tất cả cho chiến dịch, tất cả để bộ đội ăn no đánh thắng”, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ hy sinh quên mình vì dòng chảy chi viện cho chiến trường. Trong thời gian này, quân địch đã dùng phi cơ tập trung đánh phá đường giao thông thủy, bộ, cầu phà ở vùng Thượng du Thanh Hóa, hòng phá kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch Thượng Lào của ta. Đồng thời thả bom, bắn phá các kho hàng ở Quan Hóa, Bá Thước. Ngoài ra bọn Thổ phỉ tăng cường hoạt động, như đốt kho tàng, phá cầu trên đường vận chuyển từ Hồi Xuân đi Vạn Mai, bắt dân công, giết cán bộ, gây trở ngại cho công tác giao thông vận tải tiếp viện cho chiến trường. Vượt qua mọi thử thách, lực lượng TNXP, dân công tiếp vận Thanh Hóa đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, kiên trì bám trụ mặt trận giao thông vận tải để đưa hàng tới đích an toàn và nhanh chóng nhất. Trong khi làm nhiệm vụ, có những người dân công xông qua trong bom đạn của địch để cứu chữa kho hàng, chuyển gạo ra khỏi vòng khói lửa. Lại có những dân công cởi trần, lấy áo che gạo để bảo vệ gạo khỏi ướt. Có những đoàn vận tải chịu đói suốt cả ngày để đưa hàng đến địa điểm an toàn, đúng thời gian quy định. Có đoàn TNXP tải thương đi một đêm 50 km đường dốc trơn, nhưng vẫn bảo vệ được thương binh chu đáo. Nhiều nơi, các đoàn TNXP, dân công vận tải phải tổ chức chiến đấu để bảo vệ thương binh và hàng hóa, đồng thời giữ vững cầu, đường vận chuyển.

    Ngày 28/3/1951, trên đường đi công tác, Bác Hồ đã đến thăm Liên đội TNXP 312 đang làm nhiệm vụ tại cầu Nà Cù, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi gặp gỡ thân mật, Người đã đọc tặng các “chiến sĩ TNXP” 4 câu thơ sau:

Không có việc gì khó,

Chỉ sợ lòng không bền.

Đào núi và lấp biển,

Quyết chí ắt làm nên”.

    Bài thơ của Bác tặng TNXP vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta đã bước vào giai đoạn tổng phản công và đã trở thành hành trang tinh thần vô giá của thế hệ trẻ Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gần 19.000 TNXP Thanh Hóa đã lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở khắp các chiến trường, chiến dịch. Các anh chị em đã trực tiếp tham gia mở đường chiến lược, ngụy trang đường ra trận, tiếp lương, tải đạn, phá bom nổ chậm, làm tốt công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh...

    Bấy giờ, Thanh Hóa là tỉnh có lực lượng TNXP sớm nhất, số lượng đông nhất, tham gia nhiều binh chủng nhất, bám trụ ở những điểm gian khổ ác liệt nhất và lập nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc. Chỉ tính riêng chiến dịch Thượng Lào và liền sau đó là chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa có 16.000 chiến sỹ TNXP tham gia. Trong số đó có gần 1 vạn TNXP Thanh Hóa phục vụ kháng chiến, chiếm 1/5 lực lượng trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường cả nước.

    Ngày 3/5/1953, liên quân Lào - Việt đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Sầm Nưa, một phần Xiêng Khoảng và Phông Xa Lì, kết thúc chiến dịch Thượng Lào thắng lợi hoàn toàn. Trong chiến dịch Thượng Lào, nhân dân Thanh Hóa đã huy động được 113.070 dân công dài hạn và 148.499 dân công ngắn hạn làm công tác giao thông phục vụ chiến dịch. Huy động 2.000 xe đạp thồ, 180 con ngựa, 8 ô tô, 1.300 thuyền vận chuyển 8.000 tấn gạo và hàng chục ngàn tấn thực phẩm thịt, cá, muối, rau đậu các loại. Bảo đảm 70% nhu cầu hậu cần của toàn chiến dịch. Tổng kết chiến dịch Thượng Lào, Thanh Hóa được Bác Hồ tặng “Cờ phục vụ tiền tuyến khá nhất”. Đơn vị xe đạp thồ của thị xã Thanh Hóa được Bác Hồ khen thưởng, được quân đội giải phóng Lào tặng cờ “Tập đoàn dân công xe đạp có thành tích”.

      Hang Co Phương là một hang núi do thiên nhiên kiến tạo trong lòng núi đá của dãy Pố Há. Núi có chiều dài 60 m, rộng khoảng 40m, gồm các phiến đá lớn chồng xếp lên nhau, xung quanh núi là đồi đất. Hang có diện tích khoảng từ 18 - 20m2, nơi cao nhất của hang là khoảng 4m. Hang có 2 cửa đi vào, càng đi sâu vào bên trong lòng hang càng hẹp.

    Vào những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, hang Co Phương không chỉ là trạm quân lương mà còn là nơi trú quân của bộ đội, TNXP và dân công hỏa tuyến. Lương thực, thực phẩm và vũ khí ngoài việc chuyển bộ, bằng xe đạp thồ còn được vận chuyển bằng thuyền ngược sông Mã. Tới khu vực Phú Lệ, dòng sông cạn thuyền bè đi lại khó khăn được chuyển lên bờ và chuyển bộ. Đường 15A, đoạn qua Phú Lệ nơi có cầu Phú Lệ, cầu Vạn Mai thường bị máy bay giặc Pháp ném bom, bắn phá. Để bảo đảm giao thông, đoạn đường này luôn có lực lượng TNXP, dân công hỏa tuyến đảm nhiệm để giữ vững giao thông thông suốt.

    Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 2/4/1953, máy bay giặc Pháp thay nhau quần đảo, thả bom. Đặc biệt, tại khu vực Bản Sại, trong đó có hang Co Phương là nơi để lương thực và nơi trú quân của dân công hỏa tuyến bị thiệt hại nặng nề. Tiểu đội dân công 13 người xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa đang trú ẩn trong hang bị bom đánh sập làm 11 người hy sinh, một người bị thương khi chuyển tới bệnh viện Hồi Xuân nhưng do vết thương quá nặng đã hy sinh, chỉ duy nhất 1 người đã may mắn sống sót do đang ra sông gánh nước.

     Cho đến nay vẫn chưa xác định được số người còn nằm lại trong hang. Trong số người còn nằm lại trong hang Co Phương, chủ yến là dân công hỏa tuyến của huyện Thiệu Hóa, một số người là TNXP và bộ đội. Bà con bản Sại còn nhớ anh Cao Sỹ Thắng, bộ đội tiểu đoàn 53, quê ở Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An cũng hy sinh trong trận bom này.

    Trận bom giặc Pháp ném xuống xã Phú Lệ ngày 2/4/1953, huyện Thiệu Hóa có 24 người hy sinh. Ngoài 12 liệt sỹ xã Thiệu Nguyên còn có 5 liệt sỹ của xã Thiệu Hợp, 3 liệt sỹ xã Thiệu Phú. Xã Thiệu Duy, xã Thiệu Châu, mỗi xã có 1 người hy sinh, xã Thiệu Hợp còn có 2 dân công trúng bom ở dốc Phú Lệ. Sau khi máy bay giặc Pháp rút, quanh khu vực hang Co Phương chìm trong cảnh tang thương, chỉ còn lại ba hố bom lớn xung quanh khu vực hang và nhiều người bị trúng bom hy sinh, bị thương. Ngay sau đó, Ban chỉ huy công trường huy động lực lượng tới băng bó, chuyển những người bị thương xuống bệnh viện Hồi Xuân cứu chữa, chôn cất những người đã hy sinh và thu dọn chiến trường. Tiếp đó Trung đội 1 dân công huyện Thiệu Hóa được giải quyết trở về địa phương. Còn các đơn vị khác ở lại tiếp tục làm đường, làm cầu Phú Lệ.

          Hang Co Phương, nơi trú quân của dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Thượng Lào bị máy bay Pháp oanh tạc ngày 2/4/1953.

    Những người hy sinh, đa số đều còn đang ở độ tuổi thanh xuân và chưa lập gia đình. Một số người mới cưới vợ hoặc vừa có con nhỏ nhưng vì tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc họ đã lên đường làm nhiệm vụ phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến. Huyện Thiệu Hóa là địa phương có số người hy sinh nhiều nhất trong trận ném bom của giặc Pháp ngày 2/4/1953 đã tổ chức cuộc họp giữa các ngành chức năng với thân nhân của các liệt sỹ để bàn cách tìm hài cốt liệt sỹ ở hang Co Phương. Nhiều người đã tính đến phương án di dời tảng đá lớn ở cửa hang để quy tập hài cốt các liệt sỹ. Tuy nhiên, việc tìm được hài cốt và xác định danh tính gặp nhiều khó khăn, các thân nhân liệt sỹ đã đi đến thống nhất giữ nguyên vị trí những người đã yên nghỉ trong lòng hang. Hằng năm, thân nhân liệt sỹ và các ban, ngành chức năng đều đến thăm viếng và dâng hương tưởng nhớ vào dịp ngày giỗ chung, ngày lễ, tết.

    Năm 2000, UBND tỉnh Thanh Hóa cấp kinh phí xây dựng ngay trước cửa hang một tấm Bia tưởng niệm và một tấm bia ghi lại sự kiện ngày 2/4/1953 (gắn trên mỏm núi trước cửa hang) - nơi đây là nơi ghi lại dấu ấn và thể hiện ý chí, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ, hy sinh quên mình để chi viện cho chiến trường của quân và dân ta, với quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược, hang Co Phương là điểm di tích quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau./.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, xuất bản tháng 12-2005.

2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quan Hóa, Lịch sử Đảng bộ huyện Quan Hóa (2005), Nhà xuất bản Thanh Hóa.

 3. Sở Giao thông - Vận tải Thanh Hóa (1995), 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành Giao thông - Vận tải Thanh Hóa - NXB Giao Thông - Vận tải.

4. Lê Văn Viện (2012), Hồ sơ lý lịch khoa học di tích lịch sử cấp tỉnh hang Co Phương.

 

Nguyễn Tuyết (Trung tâm Lưu trữ quốc gia tài liệu điện tử) - Lê Văn Viện (Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa)