10:14 AM 07/11/2018  |   Lượt xem: 135  | 

Diện mạo đô thị Sài Gòn – Gia Định có nhiều thay đổi trong chương trình chỉnh tranh và mở rộng nhằm thúc đẩy giao thương, tăng nguồn thu ngân sách của chính quyền thuộc địa.

       Dân số ngày càng tăng, cơ sở hạ tầng của đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn cũ đã không còn đáp ứng được nhu cầu sống mới. Thêm vào đó, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính quyền thuộc địa Đông Dương tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 và việc xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ mục đích đó được tiến hành. Sài Gòn – Gia Định là trung tâm của Nam Kỳ đã được chú trọng phát triển bằng chương trình đô thị hóa, chỉnh tranh và mở rộng (1).

      Ngày 12/7/1928, Thống đốc Nam Kỳ ban hành sắc lệnh về việc tiến hành chương trình đô thị hóa, chỉnh trang và mở rộng vùng Sài Gòn – Gia Định. Ngày 20/11/1930, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định quy định cụ thể hơn về vấn đề trên. Trong quá trình thực hiện, có những phát sinh mới cần điều chỉnh, vì thế ngày 12/6/1942, Thống đốc Nam Kỳ ban hành sắc lệnh sửa đổi một số điều của sắc lệnh ngày 12/7/1928. Trong các sắc lệnh đó, Thống đốc Nam Kỳ quyết định quy hoạch Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định thành các vùng:

  • Vùng A: khu biệt thự kiểu Châu Âu
  • Vùng B: Khu nhà kiểu Châu Âu dành cho buôn bán và làm việc. Khu nhà ở tập thể
  • Vùng C: Khu biệt thự kiểu Châu Á
  • Vùng D: Khu nhà ở liền kề kiểu Châu Á
  • Vùng E: Khu thương mại và làm việc theo kiểu Châu Á
  • Vùng F: Khu làng xã của người Châu Á theo kiểu truyền thống
  • Vùng G: Khu dành cho các cơ quan công quyền
  • Vùng H: Khu Công nghiệp
  • Vùng nông thôn và trồng rau
  • Khoảng không gian tự do: dành làm vườn hoa, công viên, khu vui chơi, thể thao
  • Khu bảo tồn lâm nghiệp (2).

 

Bản đồ quy hoạch khu Sài Gòn – Chợ Lớn (3).

      Chương trình được lập cho vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và trung tâm Gia Định dựa trên chương trình do sở Đô thị và Kiến trúc trung ương lập cho thành phố Hà Nội và Hải Phòng, do có sự tương đồng về mặt tổ chức hành chính, đều là trung tâm hành chính và có trụ sở của cơ quan công quyền, đồng thời còn là trung tâm thương mại, với một cảng biển hiện đại bậc nhất trong khu vực.

      Năm 1929, dân số Sài Gòn – Gia Định tăng lên, trong đó công nhân, lao động làm thuê chiếm gần phân nửa, kể cả những người làm thuê ở các hiệu thủ công hay các xưởng thủ công. Mỗi năm, sau Tết, khi mùa gặt đã xong, mùa cấy chưa đến thì hàng vạn bần cố nông từ các làng mạc nông thôn Nam Kỳ kéo nhau vào Sài Gòn – Chợ Lớn kiếm sống, làm đủ các ngành nghề theo kiểu thời vụ. Sài Gòn trở thành trung tâm kinh tế - chính trị phát triển bậc nhất Việt Nam, thu hút ngày càng nhiều tầng lớp cư dân kể cả người bản địa và ngoại quốc về đây sinh cơ, lập nghiệp.

     Cư dân bản địa gia tăng cùng với số người phương Tây đổ dồn về Gia Định đã gây ra tình trạng quá tải về giao thông, an ninh và vệ sinh. Việc chỉnh trang các trung tâm dân cư chính thuộc Gia Định, nằm ven Sài Gòn ngày càng trở nên cấp thiết. Đây là một bước đệm để chuẩn bị cho việc mở rộng vùng Sài Gòn. Ngày 28/5/1938, Thống đốc Pages đã có ý kiến chấp thuận về “kế hoạch quy hoạch 10 làng: Bình Hòa xã, Hạnh Thông xã, Hạnh Thông Tây, An Nhơn xã, Thạnh Mỹ An và Phú Nhuận, hợp nhất lại thành một khu dân cư nằm ở ranh giới Gia Định và Sài Gòn” trong công văn số 5338 (4).

      Từ năm 1935, kế hoạch chỉnh trang các khu dân cư thuộc tỉnh Gia Định được tiến hành. Hệ thống cơ sở hạ tầng như bệnh viện, chợ, đường sá, điện, nước đã được đầu tư xây mới, sửa chữa và nâng cấp. Thực hiện kế hoạch này đã tiêu tốn 150.000$00 (đồng Đông Dương), ngân sách tỉnh Gia Định trong tổng số tiền đầu tư là 280.000$00 đó là chưa kể đến các công trình trong kế hoạch thường niên, cụ thể: "Thi công một nhà bảo sanh trong cụm bệnh viện của tỉnh lỵ, tân trang bệnh viện tỉnh để đón bệnh nhân người phương Tây, chỉnh trang Đại lộ Lê Văn Duyệt, Đường Thuộc địa 1 (mở làn đường cho xe đạp), nối dài Đường Mac Mahon ra Phú Nhuận (Gia Định), xây một khu chợ tại Phú Nhuận (giai đoạn đầu), chỉnh trang trung tâm Thạnh Mỹ An (cấp nước, xây mới chợ và lò mổ), xây dựng các trụ sở cảnh sát tại Xã Bình Hòa, Phú Nhuận và Thạnh Mỹ An, mở trạm thu gom, xử lý và khai thác rác thải, bùn lắng" (5).

      Trong quá trình tiến hành kế hoạch chỉnh trang khu dân cư vùng ven tỉnh Gia Định, vấn đề ngân sách và quản lý ngân sách đã gây ra nhiều tranh cãi giữa Chánh tham biện Chủ tỉnh Gia Định với Thanh tra Nha Chính sự và Hành chính. Chánh tham biện Chủ tỉnh Gia Định đề nghị Thống đốc Nam Kỳ cấp phép để tỉnh Gia Định lập Ủy ban đại diện giữa 6 xã nói trên nhằm phối hợp ngân sách để thực hiện cải tạo đô thị.

      Mặc dù, việc quản lý và cách thức quản lý các làng mới quy hoạch cũng như ngân sách phục vụ cho chương trình quy hoạch chưa được quyết định, nhưng kế hoạch thực hiện cải tạo đô thị vùng ven Sài Gòn vẫn được tiến hành. Bằng chứng là ngày 29/12/1939, Chánh Tham biện Chủ tỉnh Gia Định gửi công văn cho Thống đốc Nam kỳ có trình bày rằng (6): “vẫn còn lâu các trung tâm này mới được chỉnh trang như mong đợi, tối thiểu đảm bảo được sự trong lành và đời sống thoải mái đô thị mà theo lẽ những nơi này phải được như vậy. Vấn đề cấp điện nước và mở rộng hệ thống cống ngầm cũng còn đang rất nhức nhối…”

     Về việc quản lý ngân sách phục vụ chương trình đô thị hóa vùng ven Sài Gòn: từ tháng 7/1939, Chánh tham biện Chủ tỉnh Gia Định, Le Strat, đã xin ý kiến Thống đốc về việc ban hành quy chế quản lý ngân sách phục vụ chương trình đô thị hóa vùng ven tỉnh Gia Định, nhưng tới tháng 3 năm 1940, cơ chế đó vẫn chưa được ban hành và còn tiếp tục được thảo luận.

 

Vị trí các làng ven đô Sài Gòn (7)

      Về giao thông, trong thời gian này, hệ thống đường bộ bao gồm mặt đường, vỉa hè, cầu cống được quy hoạch, chỉnh trang thêm.

      Đại lộ Galliéni (đường Trần Hưng Đạo) lúc trước toàn là đất hoang và sình lầy. Năm 1928, đường mới được tráng nhựa và một năm sau đó, đại lộ được phân thành 2 làn đường có hệ thống đèn chiếu sáng ở giữa. Gần đó, trên đường Yersin (nay thuộc phường Ông Lãnh, Quận 1), gần đình Cầu Quan là nhà hát Thành Xương, những năm 30 của thế kỷ XX trở thành trung tâm biểu diễn nhộn nhịp của các đoàn hát bội, cải lương.

     Hệ thống đường phố này bắt đầu phát triển về phía Bắc Sài Gòn, mở rộng và nối dài một số tuyến đường về phía Gia Định: đường Mac Mahon (Nam kỳ Khởi nghĩa) năm 1937, đường Eyriaud des Vergnes (Võ Văn Tần) năm 1938 để phục vụ sân bay Tân Sơn Nhất. Đồng thời, mở một con đường đến các khu nhà ở, mở đường trên Đại lộ Hui Bon Hoa (Lý Thái Tổ) thẳng hướng đến sân bay năm 1932.

    Giai đoạn từ 1939-1943, một số công trình quan trọng đã được thực hiện. Việc xây các khu lò mổ mới ở Chánh Hưng, buộc chính quyền phải mở một mạng lưới đường mới, san lấp cầu cống, nhờ đó, mà thành phố được mở rộng hơn về phía Nam.

    Cũng như Sài Gòn, Chợ Lớn cũng bắt tay vào chương trình quy hoạch đường sá và phát triển khu dân cư đô thị. Chương trình đô thị hóa của Chợ Lớn được bắt đầu vào năm 1922 và hoàn thành vài năm sau đó: xây chợ Bình Tây, san lấp kênh rạch để mở đại lộ, cụ thể là Đại lộ Bonhoure (đường Hải Thượng Lãn Ông), Bến Cambodge (đường Kim Biên), Đại lộ Gaudot (đường Khổng Tử). Đến năm 1938, chính quyền bắt đầu cho làm đường Renault (đường Hậu Giang), một con đường chạy về phía Tây thành phố.

    Cùng với việc quy hoạch khu dân cư tập trung ven Sài Gòn, nâng cấp mở rộng đường phố là kế hoạch giữ gìn an ninh trật tự, tỉnh Gia Định đã đầu tư chi phí để thiết lập và duy trì đội ngũ cảnh sát chuyên biệt:

    “Từ tháng 7 năm 1939, việc thành lập một đội ngũ cảnh sát chuyên biệt trực thuộc SCảnh sát Gia Định là rất cần thiết vì việc giám sát các trung tâm này còn lỏng lẻo do nằm lân cận Sài Gòn. Chi phí bỏ ra cho “đội ngũ cảnh sát đô thị” là 2.000$ một tháng (một người) tương đương trong khoảng 26.000$ đến 28.000$ một năm (bao gồm chi phí cơ sở vật chất)(8).

      Tóm lại, chương trình đô thị hóa được thực hiện ở Sài Gòn – Chợ Lớn trên các hạng mục như nâng cấp giao thông, mở rộng khu đô thị, quy hoạch vùng ngoại ô nhằm hướng tới việc mở rộng đô thị. Chương trình này được thực hiện nhằm cải thiện cơ sở vật chất và điều kiện để tăng phần thu thuế ở thuộc địa và hoạt động xuất khẩu trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Chính quyền thuộc địa./.

Chú thích:

1. Hồ sơ số 52.961 phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm LTQGII.

2. Hồ sơ số 52.961 phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm LTQGII

3. Hồ sơ số 5223 phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm LTQGII

4. Hồ sơ số 5223 phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm LTQGII. Binh Hoa Xa, Hanh Thong Xa, Hanh Thong Tay, An Nhon Xa, Thanh My An: Bình Hòa xã, Hạnh Thông xã, Hạnh Thông Tây, An Nhơn xã, Thạnh Mỹ An.

5. Hồ sơ số 5223 phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm LTQGII

6. Hồ sơ số 2482, Sưu tập Bản đồ thời kỳ Pháp và Mỹ ngụy, TTLTII.

7. Hồ sơ số 5223 phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm LTQGII.

Trần Thị Vui – Nguyễn Thị Thanh Thủy (Trung tâm Lưu trữ quốc gia II)