10:09 AM 16/06/2021  |   Lượt xem: 349  | 

Chùa Giác Hoàng xưa tọa lạc ở phường Đoan Hòa phía trong cửa Đông Nam Kinh thành Huế, nay là số 23, Tống Duy Tân, phường Thuận Thành, thành phố Huế.

     Theo Đại Nam thực lục, mùa Xuân, tháng 2 năm 1839 vua Minh Mệnh cho dựng chùa Giác Hoàng (nguyên là tiềm để nơi ở của vua khi còn là hoàng tử). Vua dụ rằng: “Đấy là đất lành, nhân đấy mà dựng chùa thờ Phật, cầu phúc lâu dài, nên sai Bộ Binh lượng phái 500 biền binh để làm1”.

    Cũng theo sử liệu ghi chép chùa có quy mô như sau: từ ngoài đi vào qua cổng tam quan là một vườn cảnh, tiếp đến lầu hộ pháp, điện trước gọi là điện Đại Hùng, điện sau gọi là điện Đại Bảo, trước chùa làm một nhà bên tả, một nhà bên hữu, đằng sau làm hai tăng phòng. Bên tả trước điện Đại Bảo khí tiềm để xưa có đào một cái giếng, nước trong mà ngọt, đặt tên là giếng Phương Thanh, mặt trên giếng đổi xây bằng đá Thanh Hoa, bên cạnh làm một đình lợp ngói, dựng một bia đá để ghi dấu thơm2. Chùa sau khi xây dựng xong được vua ban tên “Giác Hoàng tự” và phong làm quốc tự. 

 

Cảnh chùa Giác Hoàng được vẽ và in trong tập Ngự đề đồ hội thi tập. Nguồn: website Trung tâm BTDTCĐ Huế.

 

     Chùa Giác Hoàng trở thành nơi tổ chức các nghi lễ Phật giáo của hoàng gia và triều đình. Các vua nhà Nguyễn thường cho tổ chức nghi lễ tụng kinh, trai đàn ở ngôi quốc tự này. Trong tài liệu Châu bản triều Nguyễn có ghi chép về việc này như sau: Theo bản tấu ngày 27 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) ghi: tháng 8 năm nay lần lượt đọc kinh yên vị và các tăng ni trai giới phát chẩn tế độ tại chùa Linh Hưu, Giác Hoàng3; bản tấu ngày 12 tháng 11 năm Minh Mệnh 21 (1840) có ghi: ngày tháng 9 năm nay làm lễ tụng kinh 3 ngày đêm tại chùa Giác Hoàng4.  Giác Hoàng tự cũng được chọn là nơi lập trai đàn tụng kinh 7 ngày đêm nhân lễ băng (hà) của vua Minh Mệnh. Cụ thể bản phụng thượng dụ của Nội các ngày 13 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) ghi: Lần này có lễ băng của Hoàng Khảo thánh tổ nhân hoàng đế ta, chọn ngày tốt trong tháng 10 làm lễ tụng kinh 7 ngày tại chùa Giác Hoàng. Lễ hảo hội nghiêm trang. Vậy truyền phái Thống chế doanh Hùng Nhuệ Tôn Thất Bật và Tả Tham tri bộ Lễ Phan Bá Đạt sung phụ trách công việc… Ngày thăng đàn, truyền cho phủ Tôn nhân phái các ông hoàng thân, hoàng đệ và các viên tôn thất luân phiên đến dự lễ để tỏ rõ sự thận trọng5.

 

     Dưới triều vua Thiệu Trị, chùa được xếp hạng thứ 17 trong số 20 thắng cảnh nổi tiếng của đất Thần kinh trong tập Ngự Đề Danh Thắng Đồ Hội Thi Tập.

     Dù cảnh sắc nơi đây có đẹp đến nhường nào cũng không tránh khỏi sự vô tình của thời gian và đặc biệt là sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung làm cho chùa nhiều lần xuống cấp, được trùng tu. Tài liệu Châu bản triều Nguyễn còn ghi lại khá đầy đủ về những lần hư hỏng và trùng tu đó. Cụ thể như: Bản tấu của Bộ Công ngày 2 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) tâu: tháng 9 năm nay nhân có mưa gió vâng kiểm tra thấy các toà nhà của chùa Giác Hoàng trong đó có chỗ gỗ ngói bị gẫy vỡ thấm dột, xin xem xét giải quyết. Bộ đã phái quan viên đến kiểm tra xem xét, theo trình bày thì các toà nhà của chùa ấy trong đó có 10 thanh rui và 1 cờ, 2 cột đèn đã bị gẫy hỏng, nay xin cho Bộ Binh chọn phái 1 viên Suất đội, 50 biền binh, cấp thợ, vật liệu để tu bổ, hạn trong 1 tháng xong việc xem chi cấp bao nhiêu theo sự thực mà tập hợp cho thanh toán6; Bản tấu ngày 23 tháng 4 năm Tự Đức thứ 20 (1867) của Bộ Lễ tâu: chùa Giác Hoàng vào giờ Thân ngày 19 tháng này, mưa to gió lớn bỗng có sét đánh vào phía bên phải điện Đại Bảo, gạch ngói vôi vữa trên nóc bị rơi vỡ, bậc cửa phía sau chiếc giường ở án thờ tám thế gian giữa bị vỡ hỏng, tường vôi ở án bị vỡ 2 chỗ. Duy có khám gỗ và khăn che phật tượng là không mảy may sai lệch. Bản bộ đã phái thuộc hạ tới xem xét thấy đúng sẽ cho Bộ Công sức thợ tới tu bổ7.

 

Trang đầu bản tấu ngày 2 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) của Bộ Công về tình hình chùa Giác Hoàng bị mưa gió làm hư hỏng một số công trình xin phái suất biền binh,

chi vật liệu để tu sửa.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn

 

     Trong biến cố Kinh đô thất thủ ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5/7/1885), quân Pháp đánh chiếm một số cơ sở của triều đình và phủ Thừa Thiên. Chùa Giác Hoàng cũng bị giặc Pháp chiếm làm trại đóng quân. Năm 18998 chùa bị triệt giải hoàn toàn nhường chỗ cho xây dựng Viện Cơ mật – là nơi hội họp giữa Nam triều với Chính phủ Bảo hộ Pháp. Hiện nay nơi đây là Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế. Khi chùa bị triệt giải, các pho tượng “Tam thế” và nhiều đồ thờ tự ở đây được chuyển tạm sang chùa Diệu Đế. Riêng quả Đại hồng chung của chùa, căn cứ theo bản phúc của Thị vệ xứ ngày 20 tháng 8 năm Thành Thái 6 (1894): phụng ý chỉ của Từ Dụ Bác Huệ khang Thọ Thái Thái Hoàng Thái hậu: chiếc chuông đồng ở chùa Giác Hoàng trước đã giao cho Vũ khố giữ, nay truyền nha đó đem ngay chiếc chuông đó vào cung Gia Thọ cân làm phiếu tiến trình rồi sẽ chuẩn cho đem vào bày thờ tại chùa Từ Ân9.

 

Năm 1899 chùa bị triệt giải hoàn toàn nhường chỗ cho xây dựng Viện Cơ mật. Ảnh: TL.

 

     Như vậy qua sử liệu và tài liệu Châu bản nói trên chúng ta phần nào thấy được quá trình hình thành, phát triển và bị triệt giải của ngôi chùa vốn là một trong hai mươi cảnh đẹp xứ Thần Kinh như vua Thiệu Trị đã từng xếp hạng các cảnh quan. Nơi đây, đã từng là danh thắng, điểm quan chiêm cho nhân dân và sứ thần các nước mỗi khi có dịp đến Kinh đô Huế và0. nơi tổ chức các nghi lễ phật giáo giờ chỉ còn trong sử sách, trong tâm thức của mỗi người dân.

------------------------------------

Chú thích tài liệu tham khảo:

1,2 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 5, tr.464.

3 Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 78, tờ 229.

4 Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 80, tờ 162.

5 Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 9, tờ 223.

6 Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 51, tờ 22.

7 Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 163, tờ 79.

Đại Nam nhất thống chí, quyển 1 tập Kinh sự, tr 38.

9 Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 17, tờ 85.

Lê Thông - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I