LỜI GIỚI THIỆU

Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Một triều đại kéo dài qua hơn một thế kỷ với những bước thăng trầm, biến cố của lịch sử dân tộc, nhưng cũng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức mỗi người dân Đất Việt. Trong suốt 143 năm tồn tại, triều Nguyễn đã để lại nhiều nguồn di sản đáng ghi nhận trong đó có tài liệu Châu bản và Mộc bản.

Tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn là loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm của Việt Nam và thế giới hiện nay. Đó là những bản gỗ khắc chữ Hán và chữ Nôm ngược dùng để in ra các sách chính văn, chính sử của vương triều Nguyễn. Hiện nay, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV đang bảo quản 34.619 tấm Mộc bản với 55.320 mặt khắc thuộc 152 đầu sách. Đây là khối tài liệu có giá trị trên nhiều phương diện như vật mang tin, phương pháp chế tác, kỹ thuật san khắc... Chính vì những giá trị vô cùng quan trọng nên tổ chức UNESCO đã công nhận Mộc bản Triều Nguyễn là Di sản tư liệu thế giới vào ngày 31/7/2009. Đây là niềm tự hào không chỉ riêng ngành lưu trữ mà là niềm tự hào cho cả dân tộc Việt Nam. Mộc bản trở thành Di sản tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam.

Tài liệu Châu bản Triều Nguyễn là khối tài liệu hành chính, được hình thành trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước của triều Nguyễn, gồm các tập Tấu sớ, Tờ trình, Chiếu, Chỉ, Dụ… được đích thân các Hoàng đế ngự lãm và có những lời bút phê trực tiếp bằng mực màu son. Với những giá trị về nội dung, độc đáo về hình thức và tầm ảnh hưởng khu vực, Châu bản Triều Nguyễn đã được công nhận là Di sản tư liệu trong chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày 14/7/2014.

Nhằm phát huy giá trị của tài liệu Châu bản và Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV phối hợp với Trung tâm Lưu trữ quốc gia I tổ chức thực hiện trưng bày chuyên đề “Di sản tư liệu thế giới Châu bản, Mộc bản – Giá trị lịch sử từ ký ức” để giới thiệu tới công chúng giá trị lịch sử từ những thành quả mà cha ông để lại.

Tính độc đáo về hình thức của Di sản tư liệu Châu bản, Mộc bản.

Đối với tài liệu Mộc bản:

Bên cạnh những giá trị đặc biệt về nội dung, Mộc bản cũng mang những nét độc đáo về chất liệu vật mang tin hay nghệ thuật san khắc.

Về chất liệu: Mộc bản được khắc bằng gỗ Táo, gỗ Thị, gỗ Lê và gỗ cây Nha Đồng; thớ gỗ vừa mềm, vừa mịn, trắng sáng như ngà voi.

Phương pháp chế tác rất đặc biệt, nét chữ khắc rất tinh xảo, điêu luyện như rồng bay phượng múa, chuyển tải tâm tư, tình cảm và tâm huyết của những người thợ khắc in.

Mộc bản được khắc chủ yếu bằng chữ Hán chân, nhưng đôi khi được khắc bằng chữ Hán thảo, Hán triện, chữ Nôm. Ngoài ra, còn có sơ đồ, hình thể và nhiều họa tiết hoa văn. Mỗi tấm Mộc bản không chỉ là một trang tài liệu quý có giá trị lịch sử mà còn là một tác phẩm nghệ thuật.

Đối với Châu bản: Châu bản Triều Nguyễn có hình thức ngự phê độc đáo, bút pháp tinh hoa, chữ viết đa dạng, hệ thống ấn triện phong phú, chất liệu văn bản đặc trưng truyền thống.

Đó là hình ảnh những Ấn chương trên tài liệu Châu bản. Hệ thống Ấn triện gồm có Kim bảo (Quốc gia tín bảo), Dấu kiềm (ấn kiềm của Sử quán), Hình dấu của Tôn nhân phủ... Những Ấn triện này đã khẳng định tính xác thực và tính pháp lý của các loại văn bản, đồng thời cho thấy chế độ văn thư dưới Triều Nguyễn quy định rất chặt chẽ về việc quản lí và sử dụng con dấu trong việc bản hành văn bản.

Trên Châu bản có nhiều hình thức Ngự phê rất phong phú như: Châu phê, Châu điểm, Châu cải, Châu mạt, Châu sổ, Châu khuyên để truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề về kinh tế, văn hoá, chính trị, ngoại giao. Ngự phê trên Châu bản là “bộ sưu tập thư pháp thảo thư của các Hoàng đế nhà Nguyễn” với những nét chữ thảo khoáng đạt, đạt đến tính thẩm mỹ cao trong lối thể hiện thư pháp của người xưa. (Châu điểm là một nét son do nhà vua chấm lên đầu văn bản hoặc một vấn đề thể hiện sự đồng ý. Châu phê là những chữ, một câu hoặc một đoạn văn do đích thân nhà vua viết, có thể ở đầu, ở cuối hoặc chen vào giữa các dòng trên văn bản thể hiện quan điểm hoặc cho ý kiến chỉ đạo. Châu khuyên là vòng son được nhà vua khuyên lên điều khoản, tên người hoặc vấn đề được chấp thuận. Châu mạt là nét son nhà vua phết lên những chỗ không chấp thuận hoặc chấp thuận. Châu sổ là nét son được gạch sổ trực tiếp lên những chữ cần sửa chữa hoặc không được chấp thuận. Châu cải là chữ, câu, đoạn viết bên cạnh những chữ đã sổ bỏ nhằm sửa lại hoặc thể hiện quan điểm của nhà vua.)

Tài liệu Châu bản còn đa dạng về chữ viết. Châu bản được soạn thảo chủ yếu bằng chữ Hán và chữ Nôm, một số văn bản giai đoạn cuối triều Nguyễn (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) viết bằng chữ Pháp và chữ Việt. Hiện nay tài liệu Châu bản đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội) với hơn 80.000 văn bản rất có giá trị.

Giá trị nội dung phong phú của Di sản tư liệu Châu bản và Mộc bản

Về phương diện sử liệu, cả Châu bản và Mộc bản đều có nội dung rất phong phú đa dạng, phản ánh chân thực đời sống xã hội Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử cũng như mối quan hệ bang giao của nước ta với nhiều quốc gia trên thế giới.

Tài liệu Châu bản phản ánh các mặt hoạt động của xã hội Việt Nam thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn. Còn tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn có nội dung phong phú phản ánh đời sống, văn hóa, xã hội của Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước đến những năm đầu thế kỷ XX qua 9 chủ đề như: Lịch sử; Địa lý; Chính trị - xã hội; Quân sự; Pháp chế; Văn hóa - giáo dục; Tôn giáo - tư tưởng - triết học; Văn thơ; Ngôn ngữ - văn tự. Trong đó có nhiều bộ sử lớn và thời gian san khắc kéo dài như: Đại Nam thực lục tiền biên – Ghi chép về lịch sử Việt Nam dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ 1558 – 1777; Đại Việt sử ký toàn thư – ghi chép lịch sử nước ta từ thời khởi thủy cho đến thời Lê Gia Tông Mỹ Hoàng đế (1675); Đại Nam nhất thống chí – ghi chép một cách tổng quát và đầy đủ những sự kiện, sự tích của từng tỉnh thành trong cả nước từ năm Thành Thái thứ 18 trở về trước; ...

Trong khối tài liệu Mộc bản, còn tìm thấy rất nhiều tư liệu liên quan đến chủ quyền của quốc gia Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó  là các tư liệu liên quan đến việc các Vua nhà Nguyễn cử người đi khai thác các hải vật, hóa vật sẵn có; thăm dò đo đạc thủy trình vẽ thành bản đồ hay cắm mốc chủ quyền và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Đây là bản Tấu của Bộ Công về kết quả đi khảo sát và vẽ bản đồ ở Hoàng Sa năm Minh Mệnh thứ 19 (1838).

Với những giá trị nổi bật đáp ứng các tiêu chí về nội dung và hình thức cũng như tính độc đáo, xác thực, tầm ảnh hưởng khu vực và quốc tế, tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới vào ngày 31/7/2009 và tài liệu Châu bản đã được công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình “Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương” năm 2014.