Các triều đại phong kiến Việt Nam đều coi trọng việc phát triển giáo dục, không chỉ với mục đích tìm người giúp nhà vua cai trị đất nước, khuyến khích tinh thần hiếu học; mà nền giáo dục mỗi triều đại đều có sự kế thừa và phát triển quy củ hơn; điều đó thể hiện tính độc lập, tự chủ và xây dựng nền văn hiến dân tộc. Sự phát triển của nền Khoa cử đã minh chứng cho điều đó.

     Lịch sử nền khoa cử Việt Nam đã trải qua gần 1000 năm, mở đầu bằng khoa thi Tam trường để chọn Minh kinh Bác học vào năm 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông. Người đỗ đầu kỳ thi này là Lê Văn Thịnh quê ở làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) và là vị thủ khoa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam với danh nghĩa Ông trạng khai khoa. Năm 1195, nhà Lý tiếp tục cho mở khoa thi Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) chọn người hiền tài giúp nước.

     Đến triều Trần, chế độ khoa cử phát triển và hoàn thiện hơn, các khoa thi tổ chức đều đặn và được quy định rõ ràng. Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi Thái học sinh để chọn Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp. Tại khoa thi Thái học sinh năm 1247, nhà Trần đặt ra danh hiệu Tam khôi gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Người đỗ đầu khoa thi này là Nguyễn Hiền, ông được coi là vị Trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, khi ấy ông mới 13 tuổi.

     Vào năm 1396, vua Trần Thuận Tông lần đầu tiên đặt lệ thi Hương, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội ở Kinh đô. Thi Hương là kỳ thi được tổ chức tại các trường thi ở nhiều tỉnh thành (từ Hương có nghĩa là khu vực quê hương của người dự thi). Để được vào dự thi Hương, các Nho sinh phải trải qua kỳ thi Khảo hạch ở địa phương nhằm giảm bớt những người chưa thực sự đủ năng lực, đức hạnh. Người đỗ khoa thi Hương gọi là Hương cống và được phép tham dự thi Hội. Thi Hội là khoa thi được tổ chức 3 năm một lần ở cấp trung ương do bộ Lễ tổ chức. Người đỗ đầu khoa thi Hội được gọi là Hội nguyên. Thi Đình là kỳ thi cao nhất được tổ chức tại sân đình nhà vua, đề thi do nhà vua trực tiếp ra và sau khi Hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài, cân nhắc điểm sổ, chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ, người đỗ đầu thi Đình gọi là Đình nguyên. Ai đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình được gọi là Tam Nguyên.

     Các khoa thi được tổ chức cho tất cả các Nho sinh trong cả nước, không phân biệt nơi học, tuổi tác, địa vị xã hội, số lần đã dự thi.

     Năm 1484, dưới thời Lê, với chủ trương đề cao Nho học và tôn vinh bậc tri thức Nho học đỗ đại khoa, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu cho dựng Bia Tiến sĩ trong Văn miếu khắc tên những người đỗ Tiến sĩ kể từ khoa thi năm 1442. Mỗi khoa thi là một tấm bia đặt trên lưng rùa, do vậy, bia Tiến sĩ không chỉ mang ý nghĩa lưu danh khuyến khích người hiền tài giúp nước mà còn là biểu tượng lịch sử văn hóa về nền giáo dục khoa cử Việt Nam.                              

     Các Tiến sĩ có tên niêm yết trên bảng vàng sẽ được ban yến tiệc trong cung, được bệ kiến Hoàng thượng, thưởng ngoạn cảnh đẹp tại vườn ngự uyển, cưỡi ngựa dạo khắp kinh thành, rồi vinh quy bái tổ. Phần thưởng cao quý nhất cho Tiến sĩ là được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu để lưu danh muôn đời.

     Nhằm tôn vinh các Di sản tư liệu đã được thế giới công nhận như: Mộc bản, Châu bản, Bia Tiến sĩ. Với quan điểm Di sản tư liệu trước hết thuộc về tất cả mọi người và mọi công dân đều có quyền thụ hưởng những giá trị quý báu của di sản tư liệu, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I,  Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV và Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã phối hợp lựa chọn tổ chức triển lãm tài liệu lưu trữ “Khoa cử Việt Nam qua tài liệu lưu trữ” giới thiệu các tài liệu tiêu biểu, là những hiện vật, hình ảnh, phiên bản tài liệu như: Bia tiến sĩ, Châu bản, Mộc bản. Các tài liệu được giới thiệu tại Triển lãm giúp các nhà nghiên cứu, du khách trong nước và quốc tế có cái nhìn tổng thể về nền khoa cử Việt Nam trong thời kỳ phong kiến. Đây cũng chính là nguồn tư liệu quý cho các nhà khoa học, nhà quản lý và độc giả yêu thích văn hóa lịch sử tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Việt Nam nói chung.

     Thông qua chuyên đề triển lãm, công chúng sẽ hiểu thêm giá trị nhân văn, truyền thống hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

     Triển lãm gồm những phần chính sau:

      Phần I: Lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam qua các triều đại

      Phần này phản ánh quan điểm coi trọng phát triển giáo dục, đặc biệt việc tuyển chọn người hiền tài để phò vua giúp nước của các vị vua thời phong kiến nước ta.

      Phần II: Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên của Việt Nam

      Các tài liệu giới thiệu giúp độc giả hiểu hơn về Lịch sử hình thành, phát triển và các hoạt động Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

      1. Lịch sử hình thành

      2. Nhiệm vụ của Văn Miếu - Quốc Tử Giám

      3. Việc tuyển chọn học trò vào học ở Văn Miếu - Quốc Tử giám

      4. Thầy dạy ở Văn Miếu - Quốc Tử giám

      5. Việc học ở Quốc Tử giám

      6. Việc tổ chức thi cử tại Văn Miếu - Quốc Tử giám

      Phần III: Bia đề danh Tiến sĩ và các Trạng nguyên tiêu biểu.

      Văn bia đề danh tiến sĩ không chỉ mang ý nghĩa lưu danh khuyến khích người hiền tài giúp nước mà còn là biểu tượng lịch sử, văn hóa về nền giáo dục khoa cử Việt Nam, đồng thời, thông tin về các vị trạng nguyên tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam (Nguyễn Trực, Nguyễn Bá Ký, Lương Thế Vinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Tuệ) cũng được ghi tại đây./.