San khắc Quốc sử qua Châu bản, Mộc bản Triều Nguyễn - Di sản tư liệu Thế giới


Vua Minh Mệnh cho thiết lập Quốc Sử quán - Cơ quan biên soạn chính sử lớn nhất của Triều Nguyễn vào năm 1820. (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 3 mặt khắc 12)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thiết lập Quốc Sử quán - Cơ quan biên soạn chính sử lớn nhất của Triều Nguyễn vào năm 1820. (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 3 mặt khắc 12)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thiết lập Quốc Sử quán - Cơ quan biên soạn chính sử lớn nhất của Triều Nguyễn vào năm 1820. (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 3 mặt khắc 12)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thành lập Nội Các vào năm Kỷ Sửu (1829). (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63 mặt khắc 24,25)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thành lập Nội Các vào năm Kỷ Sửu (1829). (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63 mặt khắc 24,25)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thành lập Nội Các vào năm Kỷ Sửu (1829). (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63 mặt khắc 24,25)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thành lập Nội Các vào năm Kỷ Sửu (1829). (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63 mặt khắc 24,25)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thành lập Nội Các vào năm Kỷ Sửu (1829). (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63 mặt khắc 24,25)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho thành lập Nội Các vào năm Kỷ Sửu (1829). (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63 mặt khắc 24,25)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc tư cho các tỉnh Bình Định, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Nghệ An mua gấp 1.000 tấm gỗ thị để làm ván khắc in sách “Thực lục chinh biên đệ tam kỷ”, năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 335, tờ 126)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 13 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), Vua ban dụ về những quy định ề lề lối làm việc giữa Nội Các và các Bộ (Minh Mệnh tập 40, tờ 83)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 13 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), Vua ban dụ về những quy định ề lề lối làm việc giữa Nội Các và các Bộ (Minh Mệnh tập 40, tờ 83)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 13 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), Vua ban dụ về những quy định ề lề lối làm việc giữa Nội Các và các Bộ (Minh Mệnh tập 40, tờ 83)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Vua Minh Mệnh cho xây dựng Quốc Sử quán ở bên tả trong Kinh thành, công trình được thi công trong vòng hơn một tháng thì hoàn thành, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 1)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho xây dựng Quốc Sử quán ở bên tả trong Kinh thành, công trình được thi công trong vòng hơn một tháng thì hoàn thành, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 1)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho xây dựng Quốc Sử quán ở bên tả trong Kinh thành, công trình được thi công trong vòng hơn một tháng thì hoàn thành, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 1)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Triều Nguyễn tổ chức khai trương Quốc Sử quán vào ngày 6 tháng 5 năm 1821 tại điện Cần Chánh (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 119, mặt khắc 4)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Triều Nguyễn tổ chức khai trương Quốc Sử quán vào ngày 6 tháng 5 năm 1821 tại điện Cần Chánh (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 119, mặt khắc 4)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Triều Nguyễn tổ chức khai trương Quốc Sử quán vào ngày 6 tháng 5 năm 1821 tại điện Cần Chánh (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 119, mặt khắc 4)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Bộ Công về việc xin tu bổ tầng trên và dưới của Đông Các nơi cất giữ sách Thực lục, thư tịch, Châu bản năm Duy Tân thứ 4 (1910) (Duy Tân tập 28, tờ 65)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc xin tu bổ tầng trên và dưới của Đông Các nơi cất giữ sách Thực lục, thư tịch, Châu bản năm Duy Tân thứ 4 (1910) (Duy Tân tập 28, tờ 65)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc xin tu bổ tầng trên và dưới của Đông Các nơi cất giữ sách Thực lục, thư tịch, Châu bản năm Duy Tân thứ 4 (1910) (Duy Tân tập 28, tờ 65)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc xin tu bổ tầng trên và dưới của Đông Các nơi cất giữ sách Thực lục, thư tịch, Châu bản năm Duy Tân thứ 4 (1910) (Duy Tân tập 28, tờ 65)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Bộ Công về việc xin tu bổ tầng trên và dưới của Đông Các nơi cất giữ sách Thực lục, thư tịch, Châu bản năm Duy Tân thứ 4 (1910) (Duy Tân tập 28, tờ 65)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Năm Tự Đức thứ 10 (1857), Triều Nguyễn cho dựng thêm nhà chứa ván in sách ở Cục in sách tại Quốc Sử quán (Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 17, mặt khắc 18)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Hình ảnh tòa nhà Đông các, kho lưu trữ Châu bản năm 1826 - Thư viện riêng của Hoàng đế năm 1942
Năm Kiến Phúc thứ nhất (1884), Triều Nguyễn tiếp tục cho xây dựng thêm một dãy nhà ngói 7 gian 2 chái làm Sở Khâm tu ở phía đông trước Sử quán (Đại Nam thực lục chính biên đệ ngũ kỷ, quyển 3, mặt khắc 6)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Hình ảnh tòa Tàng Thư lâu và Nội các năm 1942
Quốc Sử quán Triều Nguyễn - Cơ quan biên soạn chính sử
Bản tấu của Nội Các ngày 17 tháng 9 năm Tự Đức 31 (1878) về việc Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn cấp ấn đồng cho Quốc Sử quán, khắc bốn chữ “Quốc Sử quán ấn”. Kiềm bằng ngà khắc hai chữ “Sử quán” (Tự Đức tập 297, tờ 375)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Nội Các ngày 17 tháng 9 năm Tự Đức 31 (1878) về việc Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn cấp ấn đồng cho Quốc Sử quán, khắc bốn chữ “Quốc Sử quán ấn”. Kiềm bằng ngà khắc hai chữ “Sử quán” (Tự Đức tập 297, tờ 375)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Nội Các ngày 17 tháng 9 năm Tự Đức 31 (1878) về việc Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn cấp ấn đồng cho Quốc Sử quán, khắc bốn chữ “Quốc Sử quán ấn”. Kiềm bằng ngà khắc hai chữ “Sử quán” (Tự Đức tập 297, tờ 375)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Nội Các ngày 17 tháng 9 năm Tự Đức 31 (1878) về việc Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn cấp ấn đồng cho Quốc Sử quán, khắc bốn chữ “Quốc Sử quán ấn”. Kiềm bằng ngà khắc hai chữ “Sử quán” (Tự Đức tập 297, tờ 375)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Nội Các ngày 17 tháng 9 năm Tự Đức 31 (1878) về việc Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn cấp ấn đồng cho Quốc Sử quán, khắc bốn chữ “Quốc Sử quán ấn”. Kiềm bằng ngà khắc hai chữ “Sử quán” (Tự Đức tập 297, tờ 375)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ấn, kiềm, núm, đế ấn của Quốc Sử quán
Ấn, kiềm, núm, đế ấn của Quốc Sử quán
Ấn, kiềm, núm, đế ấn của Quốc Sử quán
Ấn, kiềm, núm, đế ấn của Quốc Sử quán
Năm Tự Đức 31 (1878), Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn kiềm cấp cho Quốc Sử quán: Ấn đồng có khắc 4 chữ “Quốc Sử quán ấn”, thẻ bài bằng ngà thì khắc 2 chữ “Sử quán” (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 5).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Tự Đức 31 (1878), Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn kiềm cấp cho Quốc Sử quán: Ấn đồng có khắc 4 chữ “Quốc Sử quán ấn”, thẻ bài bằng ngà thì khắc 2 chữ “Sử quán” (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 5).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Tự Đức 31 (1878), Triều Nguyễn bắt đầu chế ấn kiềm cấp cho Quốc Sử quán: Ấn đồng có khắc 4 chữ “Quốc Sử quán ấn”, thẻ bài bằng ngà thì khắc 2 chữ “Sử quán” (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 5).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Quốc Sử quán và hệ thống tủ, kệ, giá lưu giữ hàng trăm nộ sử sách quý của dân tộc trong Quốc Sử quán Triều Nguyễn, năm 1942.
Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), Triều Nguyễn đặt ra tổ chức bộ máy của Quốc Sử quán với các chức vụ và quyền hạn như sau: Giám tu (chỉ đạo biên soạn); Tổng tài (chủ biên); Phó Tổng tài (phó chủ biên); Toản tu (chịu trách nhiệm sưu tập tư liệu); Biên tu (biên tập viên); Khảo hiệu, hiệu san (khảo đính, hiệu đính); Thu chưởng, biện sự (giữ tài liệu và làm các việc khác); Đằng lục (chép chữ) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, quyển 98, mặt khắc 14).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), Triều Nguyễn đặt ra tổ chức bộ máy của Quốc Sử quán với các chức vụ và quyền hạn như sau: Giám tu (chỉ đạo biên soạn); Tổng tài (chủ biên); Phó Tổng tài (phó chủ biên); Toản tu (chịu trách nhiệm sưu tập tư liệu); Biên tu (biên tập viên); Khảo hiệu, hiệu san (khảo đính, hiệu đính); Thu chưởng, biện sự (giữ tài liệu và làm các việc khác); Đằng lục (chép chữ) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, quyển 98, mặt khắc 14).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), Triều Nguyễn đặt ra tổ chức bộ máy của Quốc Sử quán với các chức vụ và quyền hạn như sau: Giám tu (chỉ đạo biên soạn); Tổng tài (chủ biên); Phó Tổng tài (phó chủ biên); Toản tu (chịu trách nhiệm sưu tập tư liệu); Biên tu (biên tập viên); Khảo hiệu, hiệu san (khảo đính, hiệu đính); Thu chưởng, biện sự (giữ tài liệu và làm các việc khác); Đằng lục (chép chữ) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, quyển 98, mặt khắc 14).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho đặt ra bộ máy tổ chức của Nội các gồm: Quản lĩnh, Chánh tâm phẩm, Chánh tứ phẩm, Chánh ngũ phẩm, Tòng ngũ phẩm Thừa chỉ, Tòng lục phẩm Tu soạn, Chánh thất phẩm Biên tu, Tòng thất phẩm Kiểm thảo, Tòng bát phẩm Điển bạ, Tòng cửu phẩm Đãi chiếu… (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63, mặt khắc 26)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho đặt ra bộ máy tổ chức của Nội các gồm: Quản lĩnh, Chánh tâm phẩm, Chánh tứ phẩm, Chánh ngũ phẩm, Tòng ngũ phẩm Thừa chỉ, Tòng lục phẩm Tu soạn, Chánh thất phẩm Biên tu, Tòng thất phẩm Kiểm thảo, Tòng bát phẩm Điển bạ, Tòng cửu phẩm Đãi chiếu… (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63, mặt khắc 26)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Minh Mệnh cho đặt ra bộ máy tổ chức của Nội các gồm: Quản lĩnh, Chánh tâm phẩm, Chánh tứ phẩm, Chánh ngũ phẩm, Tòng ngũ phẩm Thừa chỉ, Tòng lục phẩm Tu soạn, Chánh thất phẩm Biên tu, Tòng thất phẩm Kiểm thảo, Tòng bát phẩm Điển bạ, Tòng cửu phẩm Đãi chiếu… (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63, mặt khắc 26)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Ngày 1 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), vua ban dụ bổ đặt một số quan chức đầu tiên vào làm việc tại Nội các (Minh Mệnh tập 40, tờ 82)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 1 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), vua ban dụ bổ đặt một số quan chức đầu tiên vào làm việc tại Nội các (Minh Mệnh tập 40, tờ 82)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 1 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), vua ban dụ bổ đặt một số quan chức đầu tiên vào làm việc tại Nội các (Minh Mệnh tập 40, tờ 82)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Ngày 12 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vua ban dụ về việc tăng nhân sự cho Quốc Sử quán (Thiệu Trị tập 10, tờ 112)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Năm Gia Long thứ 10 (1811), Vua xuống Chiếu cho sưu tầm thư tịch, điển tịch để phục vụ việc biên soạn sử sách (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 42, mặt khắc 19).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm 1820, Vua Minh Mệnh xuống Chiếu cho tìm sử sách cũ để phục vụ việc soạn thuật (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 3, mặt khắc 6)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Thiệu Ttij đã ban dụ: “Tín sử chép rõ việc từng đời, để lại làm gương cho đời sau, là việc rất quan trọng”, năm 1844 (Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 37, mặt khắc 6)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
"Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển thủ, mặt khắc 2"
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc Bộ Lại, Bộ Binh tư cho các địa phương sưu tầm sử liệu từ triều Vua Minh Mệnh đến cuối năm Đồng Khánh 3 (1887) để bổ sung vào các sách “Thực lục”, “Liệt truyện”, năm Thành Thái thứ 7 (1895) (Thành Thái tập 92, tờ 253).
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Vua Tự Đức (1848-1883) vị vua đã có nhiều đóng góp trong việc biên soạn chính sử của Triều Nguyễn
Sau khi thiết lập Quốc Sử quán, Triều Nguyễn đã đặt ra những quy định cụ thể về việc soạn thảo, biên tập các bộ chính sử phải “thống nhất theo từng thời, theo năm ghi việc, ý nghĩa, thể lệ đếu phải rõ ràng” (Đại Nam thực lục tiền biến, quyển thủ, mặt khắc 3).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Sử thần Quốc Sử quán kính cẩn dân Biểu tâu về cách thức biên soạn bộ “Liệt thánh thực lục tiền biên” - Bộ chính sử đầu tiên của Triều Nguyễn (Đại Nam thực lục tiền biên, quyển thủ, mặt khắc 3,4).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Sử thần Quốc Sử quán kính cẩn dân Biểu tâu về cách thức biên soạn bộ “Liệt thánh thực lục tiền biên” - Bộ chính sử đầu tiên của Triều Nguyễn (Đại Nam thực lục tiền biên, quyển thủ, mặt khắc 3,4).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc biên soạn các điều phàm lệ sách “Thực lục chính biên đệ tứ kỷ”, năm Thành Thái thứ 6 (1894) (Thành Thái tập 6, tờ 19).
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), vua sai Thái sử kiểm xét các khoản thức và chọn ngày khởi công để chuyển bản thảo bộ “Liệt thánh thực lục tiền biên” đi khắc in (Đại Nam thực lục tiền biên, quyển thủ, mặt khắc 5).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc trình Phủ Phụ chính duyệt bản mẫu in sách “Cảnh tông Thuần hoàng đế thực lục chính biên đệ lục kỷ” vào năm Duy Tân thứ 2 (1908) (Duy Tân tập 9, tờ 46)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua ban dụ về quá trình biên soạn bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” và chuẩn cho kiểm xét các nét chữ, khoản thức để đưa đi khắc in (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển thủ, mặt khắc 6,7,8,9)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua ban dụ về quá trình biên soạn bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” và chuẩn cho kiểm xét các nét chữ, khoản thức để đưa đi khắc in (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển thủ, mặt khắc 6,7,8,9)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua ban dụ về quá trình biên soạn bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” và chuẩn cho kiểm xét các nét chữ, khoản thức để đưa đi khắc in (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển thủ, mặt khắc 6,7,8,9)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua ban dụ về quá trình biên soạn bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” và chuẩn cho kiểm xét các nét chữ, khoản thức để đưa đi khắc in (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển thủ, mặt khắc 6,7,8,9)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc viết biểu văn sách “Thực lục chính biên đệ tứ kỷ” theo kiểu chữ Tống, rồi khắc lên ván gỗ để dân lên vua ngự lãm, năm Thành Thái thứ 9 (1897) (Thành Thái tập 32, tờ 273)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Vua Thành Thái ra chỉ dụ kiểm xét chữ viết các khoản thức để in khắc bộ sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ” (Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển thủ, mặt khắc 3,4).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Vua Thành Thái ra chỉ dụ kiểm xét chữ viết các khoản thức để in khắc bộ sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ” (Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển thủ, mặt khắc 3,4).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Trương Đăng Quế (1794-1865) - Tổng tài biên soạn sách “Đại Nam thực lục tiền biên” (Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ)
Trương Quốc Dụng (1797-1864) - Tổng tài biên soạn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”
Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902) - Tổng tài biên soạn sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ”
Triều Nguyễn tuyển chọn người viết chữ đẹp để phục vụ việc biên soạn sử sách dưới thời vua Minh Mệnh và Tự Đức (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, quyển 17, mặt khắc 12)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc tuyển người giỏi cách viết kiểu chữ Chân và chữ Tống để chép bản thảo sách “Dực tông Anh hoàng đế Thực lục chính biên đệ tứ kỷ”, dâng tiến vua ngự lãm và đợi chỉ cho khắc in, năm Thành Thái thứ 6 (1894) (Thành Thái tập 6, tờ 101).
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Tuyển chọn thợ giỏi ở Bắc kỳ để san khắc các bộ chính sử, năm Tự Đức thứ 14 (1861) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, quyển 32, mặt khắc 7).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản phụng chỉ về việc cấp tiền, gạo cho thợ khắc chữ mới tuyển ở hai xã Liễu Tràng, Hồng Lục thuộc Bắc Thành, năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) (Minh Mệnh tập 35, tờ 5)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Việc san khắc Mộc bản còn được giao cho những nghệ nhân giỏi ở Hải Dương đảm nhiệm, năm Tự Đức thứ 35 (1882) (Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 68, mặt khắc 3).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Năm 1821, Vua Minh Mệnh thưởng cấp cho các quan viên trong Quốc Sử quán tham gia biên soạn Quốc sử thực lục các triều đại (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, quyển 61, mặt khắc 1).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Bộ Lễ về việc xét các khoản thưởng, phạt cho các viên kiểm hiệu, thư lại trong việc kiểm xếp con chữ để chuẩn bị in sách, năm Tự Đức thứ 11 (1858) (Tự Đức tập 90, tờ 58).
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Gỗ nha đồng (tục danh gọi là Lồng mật, Lồng mức) thớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi được sử dụng làm ván khắc, con dấu (Đại Nam nhất thống chí, quyển 4, mặt khắc 24).
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Gỗ Lê, gỗ Táo cũng được dùng làm ván khắc (Đại Nam thực lục tiền biên, quyển thủ, mặt khắc 4,5)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Gỗ Lê, gỗ Táo cũng được dùng làm ván khắc (Đại Nam thực lục tiền biên, quyển thủ, mặt khắc 4,5)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Toản tu, Phó Tổng tài Sử quán về việc sách Thực lục chính biên đệ nhị kỷ gồm 222 quyển (số chưa khắc là 18 quyển, cộng là 600 trang), đã khắc được 204 quyển, hiện các tỉnh chưa nạp gỗ thị, vậy cho thợ san khắc về chờ đến khi gỗ thị được nạp để san khắc, năm Tự Đức 16 (1863) (Tự Đức tập 153, tờ 130)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua chuẩn cấp cho các khoản vật liệu như gỗ thị, bút, giấy Nguyên giáp, mực các hạng để phục vụ việc san khắc bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ” (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 49, mặt khắc 65)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc kiểm tra bản mẫu sách Thực lục chính biên đệ tam kỷ gồm 1.900 trang, cần dùng 995 tấm gỗ thị, năm Tự Đức 31 (1878) (Tự Đức tập 310, tờ 30)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Hình ảnh Mộc bản đang khắc dở
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Hình ảnh Mộc bản đang khắc dở
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Dụng cụ dùng để san khắc Mộc bản
(Nguồn Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Dụng cụ dùng để san khắc Mộc bản
(Nguồn Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc chọn ngày tốt để khắc ván in sách “Cảnh tông Thuần hoàng đế thực lục chính biên đệ lục kỷ” vào năm Thành Thái thứ 18 (1906) (Thành Thái tập 58, tờ 152)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Các khoản quy định về quy trình in ấn và san khắc bộ “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ”, năm Tự Đức thứ 14 (1861) (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 32, mặt khắc 7)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của Quốc Sử quán về việc sức cho thợ khắc trang nhan đề cùng lời tựa sách Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập lên gỗ thị, sau đó cho in bằng mực đỏ để được trang nhã nhìn rõ, năm Tự Đức 30 (1877) (Tự Đức tập 275, tờ 133)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Quy định về vật liệu giấy, mực, lối viết chữ dùng để in bộ sách “Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ” (Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ tục biên, quyển 32, mặt khắc 6)
(Nguồn Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)
Bản tấu của quan viên Quốc Sử quán về việc dùng giấy Kỳ lân, loại mực tốt để tiến hành in sách “Thực lục chính biên đệ tam kỷ” năm Tự Đức thứ 32 (1879) (Tự Đức tập 331, tờ 13)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Nghề sản xuất giấy sử dụng cho việc in ấn được làm bằng phương pháp thủ công
Nghề sản xuất giấy sử dụng cho việc in ấn được làm bằng phương pháp thủ công
Bản tấu của Bộ Lễ về việc kiểm tra số giấy Nguyên giáp ở Vũ khố hiện trữ 68 vạn trang, đủ để dùng in ấn sách Đại Nam hội điển sư lệ, năm Tự Đức 10 (1857) (Tự Đức tập 98, tờ 69)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)
Bản tấu của Quốc sử quán về việc trình Phủ Phụ chính duyệt bản mẫu in sách “Cảnh tông Thuần hoàng đế thực lục chính biên đệ lục kỷ” vào năm Duy Tân thư 2 (1908) (Duy Tân tập 9, tờ 46)
(Nguồn Châu bản Triều Nguyễn , Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)

Ảnh số 1/115