LỜI GIỚI THIỆU

     Là triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, trong suốt 143 năm tồn tại, Triều Nguyễn đã để lại nhiều nguồn di sản đáng ghi nhận. Đặc biệt, đối với lĩnh vực sử học, nhà Nguyễn đã từng bước đưa nền sử học thời quân chủ phát triển và đạt được thành tựu rực rỡ. Các bộ chính sử như Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…đều là những công trình vô giá, độc đáo và có tầm ảnh hưởng khu vực. Có được thành công đó là nhờ vào sự đồng lòng của Vua – quan nhà Nguyễn trong việc thực hiện quyết tâm biên soạn “tín sử” cho con cháu đời sau; coi đó là một trong những công việc trọng đại của quốc gia nhằm khẳng định tính chính thống của vương triều. Điều này được thể hiện rất rõ qua khối tài liệu Châu bản, Mộc bản Triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới.

       Phần I: Triều Nguyễn với việc biên soạn Quốc sử

       a. Lịch sử hình thành

       Các Vua nhà Nguyễn lập ra một cơ quan chuyên trách biên soạn quốc sử trong tổ chức bộ máy chính quyền, đó là Quốc sử quán. Cơ quan này được tổ chức một cách quy củ và hoạt động rất có hiệu quả.

       Trên thực tế, ở nước ta dưới thời nhà Trần đã cho lập ra Viện quốc sử. Các triều đại sau đó như nhà Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn đều tiếp tục cho duy trì hoạt động chép sử. Kế thừa truyền thống đó, vua Gia Long cho thành lập Sử cục vào năm Tân Mùi 1811, tiền thân của Quốc sử quán sau này. Trong quá trình hoạt động, Sử cục đã biên soạn  bộ Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là Luật Gia Long gồm 22 quyển, 398 điều.

       Để tiến hành biên soạn các bộ quốc sử, thực lục các triều vua, các sách chuyên khảo về địa chí, văn hóa, giáo dục theo mệnh lệnh vua, triều đình nhà Nguyễn đã thiết lập ra một bộ máy biên tập, đứng đầu chịu trách nhiệm thi hành là những văn, võ đại thần đầu triều, bên cạnh đó còn có những quy chế nghiêm ngặt trong việc soạn thảo, san khắc và in ấn. Trong quá trình biên soạn, để hoàn thành bản thảo, các sử quan phải khảo cứu thực hiện trong một thời gian dài, tốn nhiều công sức. Mỗi bộ sách sau khi biên soạn xong đều được các vị chuyên trách, đứng đầu là Tổng tài, kiểm duyệt kỹ càng, trải qua nhiều khâu, cuối cùng được chép “tinh tả” rõ ràng theo nguyên bản, kèm theo biểu dâng sách tiến trình hoàng đế “ngự lãm”.

       b. Tổ chức nhân sự tham gia biên soạn chính sử.

       Tại Sử quán, các Sử quan tham gia biên soạn chính sử được tuyển chọn kỹ lưỡng. Để đảm bảo hiệu quả, các Hoàng  đế sẽ đích thân chọn quan làm Tổng tài, từ chức Toản tu trở xuống thì lấy quan lại trong triều.

       Đồng thời có sự phân cấp rõ ràng từ người chịu trách nhiệm biên soạn chính; sưu tập tư liệu; kiểm tra, hiệu đính, chép lại nội dung cho đến nhân viên bảo quản. Đứng đầu là Giám tu (chỉ đạo biên soạn nội dung thay mặt nhà vua), tiếp đến là Tổng tài, phó Tổng tài (phụ trách việc biên soạn – chủ biên), Toản tu (sưu tập tu liệu), Biên tu (biên soạn), Khảo hiệu (kiểm tra nội dung và hiệu đính), Đằng lục (chép nội dung chuyển thợ in), Thư chưởng, Nhập lưu (bảo quản).

         c. Tổ chức hoạt động

       Sưu tầm, tổ chức khai thác tư liệu phục vụ việc biên soạn:

       Với quan điểm “đạo trị nước phải có phép thường, cách sửa trị nên tìm điển cũ”, các vua nhà Nguyễn cho phát động phong trào sưu tầm thu thập sử sách của người xưa, điển tích của đời trước đang lưu giữ tại các kho chứa và trong dân gian để tập trung nguồn tư liệu có giá trị.

       Quy định về việc biên soạn:

       Triều Nguyễn cũng đã đặt ra những quy định cụ thể về việc soạn thảo, biên tập các bộ chính sử  phải “thống nhất theo từng thời, theo năm ghi việc, ý nghĩa, thể lệ đều phải rõ ràng”.

       Kiểm duyệt bản thảo, chuyển đi san khắc:

       Bản thảo sách sau khi biên soạn xong, được kiểm tra, bổ sung, chỉnh sửa qua nhiều khâu, cuối cùng được chép “tinh tả” theo bản thảo sau cùng, kèm theo biểu dâng sách tiến trình Hoàng đế “Ngự lãm”. Sau khi nhà vua xem và phê duyệt, bản thảo được giao đến vũ khố cho thợ san khắc khắc lên những tấm gỗ (mộc bản) để in thành sách.

        Phần II: Nghệ thuật chế tác Mộc bản – Đỉnh cao của kỹ thuật san khắc

       Để có được những công trình đồ sộ làm tín sử cho đời sau, triều đình nhà Nguyễn còn đặt ra quy trình nghiêm ngặt trong việc biên soạn, san khắc và in ấn.

       Quá trình san khắc ván in cũng rất công phu và phức tạp. Tất cả các công đoạn đều được thực hiện cẩn trọng từ khâu chọn gỗ, chọn thợ viết chữ đến chọn thợ san khắc. Phải là những người thợ được tuyển chọn trong cả nước, không chỉ tài hoa về điêu khắc mà còn phải là những người trọng chữ nghĩa, văn chương.

        a. Tuyển chọn thợ giỏi

       Việc tuyển chọn thợ viết chữ và thợ san khắc cũng hết sức tỉ mỉ và thận trọng, thợ viết chữ, thợ san khắc phải là những người giỏi được tuyển chọn trong cả nước sung vào làm việc tại Quốc Sử quán. Bản thân những người thợ này vốn là những người trọng chữ nghĩa, văn chương nên mỗi thao tác thực hiện đều rất tỉ mỉ, ít khi để sai sót.

       b. Chất liệu chế tác

       Gỗ dùng làm ván khắc chủ yếu là từ gỗ Thị, nhưng cũng có gỗ Táo, gỗ Lê và gỗ cây Nha Đồng (tục danh gọi là Lồng Mật, Lồng mức, thớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi được sử dụng làm ván khắc, con dấu.)

        c. Kỹ thuật san khắc, in ấn Mộc bản

       Để đảm bảo đúng quy trình san khắc, các viên quan có chức trách cao ở Quốc Sử quán được điều phái đến trông coi, kiểm duyệt. 

      Sau khi khắc xong, dâng biểu mới được in thành sách.

       Qua quá trình hoạt động của Quốc sử quán, được thể hiện qua Châu bản, Mộc bản có thể khẳng định rằng: Triều Nguyễn đã đưa nền sử học tiến đến đỉnh cao nhất của sử học nước nhà thời trung đại.

       Khối tài liệu Mộc bản hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV với số lượng lên đến 34.619 tấm là bằng chứng khẳng định sự phát triển cực thịnh của nghệ thuật khắc in ở Việt Nam. Thông qua từng nét khắc trên Mộc bản thể hiện sự trân trọng đối với lịch sử và ý thức về lưu truyền tài liệu cho hậu thế của các bậc tiền nhân.